DANH NGÔN VỀ SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

HÌNH ẢNH NGẪU NHIÊN

ANH_1A2.jpg ANH_HS_DOC_SACH_1.jpg 1A2.jpg ANH_TET_10.jpg ANH_TET_8.jpg ANH_TET_9.jpg ANH_TET_4.jpg ANH_TET_2.jpg ANHTET_3.jpg ANH_TET.jpg ANH_TET_7.jpg ANH_TET_6.jpg HINH_ANH_HS_DOC_SACH_2.jpg ANH_HS_DOC_SACH_3.jpg ANH_HS_DOC_SACH_1.jpg A12.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 15

    Menu chức năng 16

    Menu chức năng 17

    NHẠC TẾT XUÂN 2026

    GIỚI THIÊU SÁCH THÁNG 1: CHỦ ĐỀ MÙA XUÂN

    Được Học - Tara Westover

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:13' 15-03-2024
    Dung lượng: 1.6 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Dành tặng Tyler

    Quá khứ đẹp bởi vì con người ta không bao giờ hiểu rõ một cảm
    xúc ở thời điểm đó. Mãi đến sau này cảm xúc đó mới phát triển,
    vậy nên chúng ta không có được những cảm xúc trọn vẹn về hiện
    tại, mà chỉ về quá khứ.
    — Virginia Woolf

    Cuối cùng thì tôi cũng tin rằng giáo dục chắc hẳn được hình thành
    nhờ những kinh nghiệm được tái thiết liên tục; rằng quá trình và
    mục đích của giáo dục là một và như nhau mà thôi.
    — John Dewey

    Lời chú giải của tác giả

    Câu chuyện này không xoay quanh phái Mặc Môn. Và nó cũng không nói
    về một đức tin tôn giáo nào khác. Trong câu chuyện có khá nhiều kiểu
    người, người là tín đồ, người không; rồi thì người tử tế, người không. Tác
    giả không tán thành bất cứ sự đối chiếu nào, dù là tích cực hay tiêu cực,
    giữa những kiểu người đó.
    Những tên gọi dưới đây (theo thứ tự bảng chữ cái) là hư cấu: Aaron,
    Audrey, Benjamin, Emily, Erin, Faye, Gene, Judy, Peter, Robert, Robin,
    Sadie, Shannon, Shawn, Susan, Vanessa.

    Một số chú thích được đưa vào cuốn sách này là để những ký ức khác với
    ký ức của tôi có tiếng nói. Những ghi chú liên quan đến hai câu chuyện –
    chuyện Luke bị bỏng và chuyện Shawn ngã từ tấm nâng – là quan trọng và
    cần dẫn giải thêm.
    Trong cả hai sự việc nói trên, những chi tiết không nhất quán giữa hai
    lời kể là khá nhiều và đa dạng. Nói về chuyện Luck bị bỏng. Mọi người có

    mặt ngày hôm ấy hoặc có nhìn thấy một người nào đó, hoặc không. Bố tôi
    nhìn thấy Luke, và Luke nhìn thấy bố. Luke nhìn thấy tôi, nhưng tôi không
    nhìn thấy bố và bố không nhìn thấy tôi. Tôi nhìn thấy Richard và Richard
    nhìn thấy tôi, nhưng Richard không nhìn thấy bố, và cả bố lẫn Luke đều
    không nhìn thấy Richard. Điều gì đã tạo lên mâu thuẫn như trò kéo quân
    vậy? Sau khi tất cả đã quay vòng tròn, khi tiếng nhạc cuối cùng cũng
    ngừng lại, người duy nhất mà mọi người đều nhất trí rằng đã có mặt ở đó
    ngày hôm ấy, là Luke.
    Chuyện Shawn ngã từ trên tấm nâng xuống thậm chí còn gây bối rối
    hơn. Tôi không có mặt ở đó, tôi chỉ kể lại những gì được kể cho nghe,
    nhưng tôi tin rằng đó là sự thật bởi nhiều năm trước tôi đã nghe nhiều
    người kể như vậy, và bởi vì Tyler cũng nghe kể y như thế. Mười lăm năm
    sau, anh vẫn nhớ chuyện đó giống hệt tôi đã nhớ. Vậy nên tôi đưa nó vào
    trang viết. Nhưng một phiên bản khác của chuyện này xuất hiện. Chẳng
    đợi chờ gì hết, phiên bản ấy khẳng định, máy bay trực thăng được gọi tới
    ngay tức khắc.
    Nếu nói rằng những chi tiết này không quan trọng thì đó là tôi nói dối;
    rằng dù bạn tin lời kể nào thì “bức tranh toàn cảnh” vẫn không thay đổi.
    Những chi tiết ấy quan trọng đấy. Bố tôi bảo Luke xuống núi một mình,
    hay bố đã không làm thế; bố đã để Shawn ngồi dưới nắng với chấn
    thương nghiêm trọng ở đầu, hay bố không làm thế. Một người bố khác,
    một con người khác, được sinh ra từ những chi tiết đó.
    Về chuyện Shawn ngã, tôi không biết tin vào lời kể nào. Đáng chú ý
    hơn, tôi không biết nên tin vào phiên bản nào của chuyện Luke bị bỏng, mà
    tôi có mặt ở đó hẳn hoi. Tôi có thể trở lại thời điểm đó. Luke ở trên cỏ. Tôi
    nhìn xung quanh. Chẳng có ai khác ở đó, không thấy bóng bố tôi đâu, thậm

    chí không hề có ý niệm bố tôi đang xốc tới ở bên rìa ký ức của tôi. Bố
    không ở đó. Nhưng trong ký ức của Luke, bố ở đó, nhẹ nhàng đặt anh vào
    bồn tắm, cho anh dùng thuốc vi lượng đồng căn để chống sốc.
    Điều tôi rút ra từ chuyện này là việc điều chỉnh lại, không phải ký ức
    của tôi mà cách hiểu của tôi. Tất cả chúng ta đều phức tạp hơn những vai
    mà chúng ta được phân cho trong những câu chuyện mà người khác kể.
    Đây là điều đặc biệt đúng trong các gia đình. Khi một trong những người
    anh của tôi lần đầu tiên đọc lời kể của tôi về cú ngã của Shawn, anh ấy đã
    viết cho tôi: "Anh không thể tưởng tượng nổi là bố gọi 911. Thà Shawn
    chết." Nhưng có thể không. Có lẽ, sau khi biết con trai mình bị vỡ sọ, bố
    tôi không còn là người mà vốn dĩ chúng tôi nghĩ là ông, và cũng không
    phải cái người mà nhiều năm sau này chúng tôi coi là ông. Tôi luôn biết
    rằng bố tôi yêu con cái, yêu mãnh liệt; tôi luôn tin rằng mối thù ghét các
    bác sĩ ở ông còn mạnh mẽ hơn. Nhưng có thể không. Có lẽ, vào thời điểm
    đó, thời điểm khủng hoảng thực sự, tình yêu của ông đã chiến thắng cả nỗi
    sợ hãi lẫn mối thù ghét trong ông.
    Có lẽ bi kịch thực sự là, bố tôi có thể sống trong tâm trí chúng tôi, trong
    tâm trí các anh tôi và tôi, theo cách này, bởi phản ứng của ông vào những
    thời điểm khác – hàng nghìn sự việc nhỏ nhặt hơn và các khủng hoảng ít
    nghiêm trọng hơn – đã khiến chúng tôi thấy ông trong vai đó. Tin rằng nếu
    chúng tôi ngã, bố sẽ không can thiệp. Thà chúng tôi chết.
    Tất cả chúng ta đều phức tạp hơn những vai mà ta được phân cho trong
    các câu chuyện. Không điều gì tiết lộ sự thật đối với tôi hơn việc viết tự
    truyện này – cố gắng giữ những người tôi yêu mến trên trang sách, để nắm
    bắt toàn bộ ý nghĩa về họ trong vài từ, việc mà tất nhiên là bất khả thi. Đây
    là điều tốt nhất tôi có thể làm: kể câu chuyện khác song song với chuyện

    tôi nhớ được. Về một ngày hè, một đám cháy, mùi thịt cháy, và một người
    cha giúp con trai mình xuống núi.

    Lời tựa

    Tôi đang đứng trên nóc toa tàu hỏa bị vứt bỏ cạnh khu chuồng trại. Gió
    thổi ào ào làm tóc tôi bay lòa xòa khắp mặt và đẩy cái lạnh xuống cổ áo sơ
    mi không cài cúc của tôi. Càng tới gần núi, những cơn gió càng mạnh, như
    thể chính đỉnh núi đang thở ra gió vậy. Ở phía dưới, thung lũng thanh bình
    và yên ả. Trong khi đó trang trại của chúng tôi đang múa: những cây tùng
    khế đung đưa, đám ngải đắng và những cây kế rung rinh, uốn cong trước
    mỗi luồng gió thổi ào qua và trước mỗi lỗ hổng không khí. Phía sau tôi,
    sườn đồi cao dần, cao dần rồi nối vào chân núi. Nếu tôi ngước lên, tôi có
    thể nhìn thấy hình dáng của nàng công chúa da đỏ hiện ra đen sẫm.
    Quả đồi được phủ một thảm lúa mỳ mọc hoang. Nếu như đám tùng và
    ngải đắng là những nghệ sĩ độc diễn thì cánh đồng lúa mỳ là một vũ đoàn
    ba-lê, mỗi thân lúa đều hòa theo những thân lúa khác trong chuyển động vỡ
    òa, cả triệu vũ công ba-lê uốn mình, hết lượt này sang lượt khác, khi gió
    đập mạnh những cái đầu màu vàng sẫm của chúng xuống. Cảnh đó chỉ diễn
    ra trong thoáng chốc, gần như khi ai đó bắt đầu nhìn thấy gió.
    Quay đầu về phía nhà chúng tôi trên sườn đồi, tôi nhìn thấy những
    chuyển động khác, những cái bóng cao cứng nhắc di chuyển qua những

    luồng gió. Các anh trai tôi đã thức dậy, đang ra ngoài xem thời tiết như thế
    nào. Tôi hình dung mẹ tôi đang ở bên lò nướng, canh mẻ bánh kếp. Tôi
    hình dung ra bố tôi cúi lom khom gần cửa sau, buộc dây đôi giày mũi thép
    của ông và xỏ đôi tay đầy vết chai vào đôi găng tay của thợ hàn. Trên
    đường cao tốc ở phía dưới, chiếc xe buýt của trường học chạy qua mà
    không hề dừng lại.
    Tôi mới bảy tuổi, nhưng tôi đã hiểu một điều, hơn bất cứ điều gì khác,
    điều này khiến gia đình tôi trở nên khác biệt: Chúng tôi không đến trường.
    Bố lo rằng Chính phủ sẽ buộc anh chị em tôi phải đến trường, nhưng
    không thể, bởi vì Chính phủ không biết về sự tồn tại của chúng tôi. Bốn
    trong số bảy đứa con của bố mẹ tôi không có giấy khai sinh. Chúng tôi
    không có sổ khám chữa bệnh bởi vì chúng tôi được sinh tại nhà và chưa
    bao giờ đi khám bác sĩ hoặc y tá⁠⁠⦾
    ⁠ . Chúng tôi không có hồ sơ ở trường học
    bởi vì chúng tôi chưa bao giờ đặt chân đến lớp học. Khi tôi chín tuổi, tôi sẽ
    thuộc diện làm giấy khai sinh muộn, nhưng bây giờ, theo bang Idaho và
    Chính phủ Liên bang, tôi không tồn tại.
    Dĩ nhiên tôi có tồn tại. Tôi lớn lên chuẩn bị cho Ngày Tận Thế, chờ mặt
    trời tối sầm lại, chờ mặt trăng nhỏ giọt như nhỏ máu. Mùa hè nào cũng như
    mùa hè nào, tôi dồn những quả đào vào các bình chứa, còn mùa đông tôi
    quay vòng đồ dự trữ. Khi thế giới của con người sụp đổ, gia đình tôi sẽ vẫn
    tiếp tục tồn tại, chẳng bị ảnh hưởng gì.
    Tôi được giáo dục theo nhịp của núi, những nhịp điệu chẳng mấy khi
    thay đổi mà chỉ mang tính tuần hoàn. Sáng nào cũng như sáng nào, vầng
    mặt trời ấy xuất hiện, quét qua thung lũng, và trôi xuống phía sau đỉnh núi.
    Tuyết rơi vào mùa đông, luôn tan vào mùa xuân. Cuộc sống của chúng tôi

    là một vòng tuần hoàn – của ngày, của mùa – những vòng tuần hoàn của sự
    thay đổi không ngừng mà khi hoàn tất lại có nghĩa rằng chẳng có gì thay
    đổi hết. Tôi tin gia đình mình là một phần của khuôn mẫu vĩnh cửu này,
    rằng theo một nghĩa nào đó, chúng tôi bất diệt. Nhưng sự bất diệt chỉ thuộc
    về ngọn núi kia mà thôi.
    Có một câu chuyện mà bố tôi thường kể về đỉnh núi ấy. Nàng là điều gì
    đó thật cổ xưa, uy nghi, là thánh đường của một dãy núi. Dãy núi đó có
    những ngọn núi khác, cao hơn, uy nghi hơn, nhưng đỉnh Buck được tạo
    hình đẹp nhất. Chân núi trải ra cả dặm, hình hài sẫm đen của nó phình ra từ
    mặt đất và vươn lên thành một chóp nhọn hoàn mỹ. Từ xa bạn có thể nhìn
    thấy vẻ đẹp ấn tượng của thân hình một người đàn bà trên rặng núi: đôi
    chân nàng hình thành từ những hẻm núi khổng lồ, tóc nàng là những nhành
    thông xòa trên đỉnh núi phía Bắc. Dáng đứng của nàng oai nghiêm, một
    chân duỗi về phía trước trong một động tác đầy uy lực, giống đang sải
    bước hơn là bước đi bình thường.
    Bố tôi gọi đó là Nàng Công Chúa Da Đỏ. Hằng năm nàng xuất hiện khi
    tuyết bắt đầu tan, mặt hướng về phía Nam, nhìn lũ trâu trở về thung lũng.
    Bố nói những người da đỏ sống du mục chờ sự xuất hiện của nàng như
    chờ một dấu hiệu báo xuân cho biết tuyết trên núi đang tan, mùa đông đã
    trôi qua, và đã đến lúc trở về nhà.
    Tất cả những câu chuyện của bố đều là về ngọn núi, thung lũng, về khu
    đất lởm chởm của chúng tôi ở Idaho. Bố chưa bao giờ dạy tôi phải làm gì
    nếu tôi xuống núi, nếu tôi vượt đại dương, đi xuyên lục địa và nhận ra
    mình đang ở trên một vùng đất xa lạ, nơi tôi chẳng thể tìm nàng công chúa
    da đỏ phía chân trời. Bố chưa bao giờ dạy tôi làm thế nào để biết đã đến
    lúc phải về nhà.

    Phần 1

    Chương 1

    Chọn Điều Lành

    Ký ức dai dẳng nhất của tôi thực ra chẳng phải là ký ức. Nó là chuyện mà
    tôi tưởng tượng ra, sau đó ghi nhớ như thể nó đã xảy ra thật. Ký ức đó
    được hình thành khi tôi năm tuổi, ngay trước khi tôi bước sang tuổi lên sáu,
    từ một câu chuyện mà bố đã kể tỉ mỉ đến nỗi tôi và các anh chị tôi mỗi
    người đều tạo ra trong đầu một phiên bản như một bộ phim của riêng mình,
    với súng đạn và tiếng la hét. Phiên bản của tôi có những con dế. Đó là âm
    thanh tôi nghe thấy khi gia đình tôi túm tụm vào nhau ở trong bếp, tắt hết
    đèn, ẩn trốn người của Liên bang đang bao vây nhà của chúng tôi. Một
    người phụ nữ mò vào bếp lấy nước uống và cái bóng đen của người đó
    được ánh trăng soi rõ. Một tiếng súng vọng tới nghe đét một cái như tiếng
    quất roi và cô ta gục xuống. Trong ký ức của tôi luôn luôn là mẹ gục xuống
    và mẹ bế một đứa bé trên tay.
    Mẹ bế đứa bé nào kia chứ, thật vô lý – tôi là con út trong bảy đứa con
    của mẹ – nhưng như tôi đã nói, chuyện này không có thật.
    Một năm sau khi bố kể cho chúng tôi nghe chuyện đó, một buổi tối
    chúng tôi ngồi quây quần nghe bố đọc sách của nhà tiên tri Isaiah, một lời

    tiên tri về Chúa Cứu Thế. Bố ngồi trên ghế sofa màu mù tạt, cuốn Kinh
    Thánh to tướng để mở trong lòng. Mẹ ngồi bên cạnh bố. Anh chị em chúng
    tôi ngồi ngả ngốn trên tấm thảm nâu sờn cũ.
    “Người sẽ ăn bơ và mật ong,” bố đọc bằng giọng đều đều, chậm rề, mệt
    mỏi sau một ngày dài vận chuyển phế liệu. “Và người có thể biết khước từ
    cái xấu, chọn điều lành”.
    Tiếp theo là một khoảng tạm ngừng nặng nề. Chúng tôi ngồi im lặng.
    Bố không phải là một người đàn ông cao lớn nhưng có thể chỉ huy cả
    phòng. Bố có cái vẻ uy nghiêm của một nhà tiên tri. Đôi tay bố to bản với
    lớp da dày – đôi bàn tay của một người đàn ông đã lao động cật lực cả đời
    – và đôi tay ấy cầm chắc cuốn Kinh Thánh.
    Bố đọc rõ to đoạn đó lần thứ hai, rồi lần thứ ba, lần thứ tư. Cứ mỗi lần
    đọc lại, giọng bố lại cao hơn. Đôi mắt của bố, mới mấy phút trước sụp
    xuống vì mệt mỏi giờ đây đã mở to, đầy tỉnh táo. Bố nói, có một giáo lý
    thiêng liêng ở đây. Bố sẽ cầu vấn Chúa.
    Sáng hôm sau bố dọn sạch sữa, sữa chua và pho mát trong tủ lạnh nhà
    chúng tôi đi, và tối hôm đó khi bố về nhà, chiếc xe tải nhỏ của bố chở tới
    năm mươi can mật ong.
    “Sách Isaiah không nói thứ nào xấu, bơ hay mật ong,” bố vừa nói vừa
    cười xếch đến mang tai trong khi các anh tôi kéo lê những can mật ong vào
    hầm chứa thực phẩm. “Nhưng nếu các con hỏi thì Chúa sẽ nói cho các con
    biết!”
    Khi bố đọc đoạn đó cho bà nội tôi nghe, bà cười vào mặt bố. “Mẹ có vài
    xu trong ví đấy,” bà nói. “Anh nên lấy chúng đi. Chúng sẽ là toàn bộ sự

    minh mẫn mà anh có.
    Bà tôi có khuôn mặt mỏng, trơ xương và một kho bất tận những đồ giả
    nữ trang của người da đỏ, tất cả đều bằng bạc và mai rùa, được đeo thành
    chùm, thành búi trên cái cổ gầy nhằng và những ngón tay mảnh khảnh của
    bà. Bởi vì bà sống ở dưới chân đồi, gần đường cao tốc, chúng tôi gọi bà là
    bà-ở-chân-đồi. Đây là cách gọi để phân biệt bà với bà ngoại của chúng tôi,
    người mà chúng tôi gọi là bà-trong-thị-trấn bởi vì bà sống cách chỗ chúng
    tôi mười lăm dặm về phía nam, trong cái thị trấn duy nhất của hạt, nơi có
    mỗi một trạm đèn giao thông và một cửa hàng tạp hóa.
    Bố tôi và bà nội gắn bó như hai con mèo bị buộc đuôi vào nhau. Họ có
    thể nói chuyện với nhau cả tuần mà không đồng quan điểm về bất cứ điều
    gì, nhưng họ vẫn được ràng buộc bởi cả hai đều sùng kính ngọn núi. Gia
    đình của bố đã sống dưới đỉnh núi Buck nửa thế kỷ. Những người con gái
    của bà tôi đã lấy chồng và chuyển đi nơi khác, nhưng bố tôi ở lại, dựng
    một ngôi nhà màu vàng đơn sơ, ngôi nhà mà bố chưa bao giờ hoàn thiện
    xong, ngay trên sườn đồi, trong khi nhà mẹ đẻ của bố ở chân đồi, và ném
    cả một đống đồng nát – một trong vài đống – ngay cạnh bãi cỏ được xén
    tỉa cẩn thận của bà.
    Họ bất đồng với nhau hằng ngày về bãi đồng nát lộn xộn ấy nhưng bất
    đồng với nhau thường xuyên hơn về lũ trẻ chúng tôi. Bà nghĩ chúng tôi
    nên đi học, như bà nói, và không “lang thang trên núi như những kẻ ăn lông
    ở lỗ”. Bố nói, trường công là một thủ đoạn của Chính phủ nhằm khiến bọn
    trẻ xa rời Chúa. “Nếu con cho các con mình đi học ở cái trường dưới
    đường cái kia thì có khác nào con giao chúng cho quỷ dữ,” bố nói.

    Chúa bảo bố chia sẻ khải thị đó với những người sống và canh tác dưới
    cái bóng của đỉnh núi Buck. Vào các ngày Chủ nhật, gần như tất cả mọi
    người đều tập trung tại nhà thờ, một nhà thờ được sơn màu hồ đào, nằm
    tách khỏi đường cao tốc, với cái tháp chuông nhỏ, giản dị thường thấy ở
    các nhà thờ Mặc Môn. Bố buộc các ông bố khác phải nghe mình nói, khi
    họ rời những băng ghế của nhà thờ. Bố bắt đầu với người em họ của mình,
    chú Jim, người đã từ tốn lắng nghe trong khi bố ve vẩy cuốn Kinh Thánh
    và giải thích về tội lỗi của sữa. Chú Jim cười xếch đến mang tai, rồi vỗ vai
    bố tôi, nói rằng không vị Chúa công bằng nào lại tước đi của một con
    người cái thú thưởng thức kem dâu tây nhà làm vào một trưa hè nóng nực.
    Vợ của chú Jim giật tay áo chú. Khi chú đi qua chỗ chúng tôi, tôi thoáng
    ngửi thấy mùi phân bón. Rồi tôi sực nhớ: trang trại bò sữa lớn cách núi
    Buck một dặm là của chú Jim.

    Sau khi bố bắt đầu bài thuyết giảng bài trừ sữa, bà nhét sữa đầy ặc tủ lạnh
    của bà. Ông bà chỉ uống sữa tách béo, nhưng chẳng bao lâu sau khi tất cả
    những thứ ấy được chất ở đó – ông bà dùng cả sữa chứa hai phần trăm
    chất béo, sữa nguyên kem, thậm chí sô-cô-la. Dường như bà tin đây là một
    phương pháp ăn uống quan trọng để duy trì.
    Bữa sáng trở thành một cuộc thử thách lòng trung thành. Mỗi sáng gia
    đình tôi ngồi quanh cái bàn rộng bằng gỗ sồi đỏ được gia công lại và ăn
    ngũ cốc bảy loại hạt cùng mật ong và mật đường, hoặc bánh kếp làm từ
    bảy loại ngũ cốc, cũng với mật ong và mật đường. Bởi vì có tận chín người
    chúng tôi nên những chiếc bánh kếp chẳng bao giờ được nướng kỹ. Tôi
    không phiền vì ăn món ngũ cốc nếu tôi có thể trộn nó vào sữa, để kem

    quyện bột ngũ cốc lại và tạo thành những viên ngũ cốc, nhưng từ khi có
    khải thị kia chúng tôi ăn ngũ cốc với nước lọc. Ăn như thế chẳng khác gì
    ăn một tô bùn.
    Chẳng bao lâu sau, tôi bắt đầu nghĩ đến tất cả những loại sữa đang thiu
    ra trong tủ lạnh của bà nội. Sau đó tôi hình thành thói quen bỏ bữa sáng
    hằng ngày và đi thẳng tới chuồng nuôi gia súc. Tôi đổ nước gạo cho lợn
    ăn, đổ đầy thức ăn vào máng cho bò và ngựa, sau đó tôi nhảy qua hàng rào
    của bãi quây gia súc, đi vòng ra phía sau và lẻn vào cửa ngách nhà bà tôi.
    Vào một buổi sáng như thế, khi tôi đang ngồi tại bàn quầy nhìn bà tôi
    đổ bánh bột ngô ra bát tô, bà hỏi, “Cháu có thích đến trường lắm không?”
    “Cháu không thích đâu ạ,” tôi nói.
    “Làm sao cháu biết được chứ,” bà quát. “Cháu đã bao giờ thử đâu mà
    biết.”
    Bà rót sữa vào tô bánh bột ngô và đưa nó cho tôi, sau đó bà ngồi trên
    chiếc ghế đẩu, đối diện với tôi ở phía bên kia bàn quầy, và nhìn tôi xúc
    những thìa đầy thức ăn vào miệng.
    “Ngày mai ông bà sẽ lên đường đi Arizona,” bà nói với tôi, nhưng tôi đã
    biết điều đó rồi. Ông bà luôn đi Arizona khi thời tiết bắt đầu thay đổi. Ông
    nói ông quá già để chịu đựng mùa đông Idaho; cái lạnh khiến ông buốt
    thấu xương. “Mai cháu hãy dậy thật sớm,” bà nói, “khoảng năm giờ, ông
    bà sẽ đưa cháu đi cùng. Bọn ta sẽ cho cháu đến trường.”
    Tôi cựa quậy trên ghế. Tôi cố mường tượng ra trường học nhưng không
    thể. Thay vào đó tôi hình dung ra lớp học giáo lý ngày Chủ nhật mà tuần
    nào tôi cũng tham gia và tôi ghét. Một thằng con trai tên là Aaron đã nói

    với tất cả những đứa con gái trong lớp giáo lý rằng tôi không biết đọc bởi
    vì tôi không đến trường, và bây giờ không đứa nào thèm nói chuyện với
    tôi.
    “Bố nói cháu có thể đi ư?” Tôi nói.
    “Không,” bà nói. “Nhưng khi bố cháu hiểu ra rằng cháu đã biến mất, thì
    chúng ta đã đi từ lâu rồi.” Bà đặt cái bát của tôi vào bồn rửa và nhìn ra
    ngoài cửa sổ.
    Bà là người có tính cách mạnh mẽ – không chịu ngồi yên, hiếu chiến, tự
    tin. Nhìn bà là để lùi một bước. Bà nhuộm tóc đen và điều này tôn thêm
    những nét vốn đã dữ dội của bà, nhất là hai hàng lông mày mà sáng nào bà
    cũng vẽ thành hai đường vòng cung đậm, đen như mực. Bà kẻ lông mày
    quá rộng và điều này khiến khuôn mặt bà bị kéo giãn ra. Chúng cũng được
    vẽ quá cao khiến những đường nét khác trên khuôn mặt bà mang một vẻ
    buồn tẻ, gần như mỉa mai.
    “Cháu nên đến trường,” bà nói.
    “Bố sẽ không bắt bà phải đưa cháu về chứ ạ?” Tôi hỏi.
    “Bố cháu không thể khiến bà làm bất cứ điều chết tiệt nào hết.” Bà
    đứng dậy, đứng với tư thế vững chãi. “Nếu bố cháu muốn có cháu, thì bố
    phải đến đón cháu.” Bà ngập ngừng, và trong chốc lát trông bà có vẻ xấu
    hổ. “Hôm qua ta đã nói chuyện với bố cháu rồi. Trong một thời gian dài bố
    cháu sẽ không thể đến đưa cháu về được. Bố cháu đang bận với cái lán mà
    bố cháu xây dựng trong thị trấn. Bố cháu không thể dừng việc đó lại và lái
    xe tới Arizona, không thể trong khi thời tiết ổn định và bố cháu cùng mấy
    đứa con trai có thể làm việc suốt những ngày dài.”

    Kế hoạch của bà đã được tính toán cẩn thận. Bố tôi luôn làm việc từ lúc
    mặt trời mọc tới lúc mặt trời lặn trong những tuần trước khi xuất hiện đợt
    tuyết rơi đầu tiên, cố dự trữ đủ tiền từ việc gom phế liệu và xây dựng
    chuồng trại để chúng tôi có thể tồn tại qua mùa đông, khi mà việc làm trở
    nên khan hiếm. Dù bà tôi bỏ trốn cùng với đứa con út của bố, thì bố cũng
    sẽ chẳng thể ngừng làm việc được, cho tới khi cái xe nâng của bố bị bọc
    trong băng tuyết.
    “Cháu cần phải cho các con vật ăn trước khi chúng ta đi,” tôi nói. “Chắc
    chắn bố sẽ biết cháu đi nếu lũ bò phá hàng rào đi tìm nước uống.”

    Đêm đó tôi không ngủ. Tôi ngồi trên sàn bếp nhìn thời gian trôi, qua chiếc
    đồng hồ treo tường. Một giờ sáng. Hai giờ. Ba giờ.
    Bốn giờ tôi đứng dậy, đặt đôi giày ống của mình ở cạnh cửa sau. Phân
    đóng bánh lại quanh giày, và tôi chắc chắn bà sẽ không cho tôi tha đôi giày
    ấy lên xe hơi của bà. Tôi hình dung ra đôi giày bị bỏ lại trên hiên nhà bà,
    trong khi tôi chân trần bỏ trốn đến Arizona.
    Tôi mường tượng những gì sẽ xảy ra khi gia đình phát hiện ra tôi đã
    biến mất. Anh Richard và tôi thường ở cả ngày trên núi, vậy nên có thể
    không ai phát hiện ra chuyện đó cho tới khi mặt trời lặn, khi Richard về
    nhà ăn tối mà tôi thì không. Tôi hình dung ra các anh tôi chạy túa ra khỏi
    cửa để tìm tôi. Các anh ấy sẽ thử tìm ở bãi phế liệu trước tiên, nhấc các
    tấm thép lên phòng khi các tấm thép nằm ngốn ngang đã xê dịch và khiến
    tôi mắc kẹt trong đống phế liệu. Sau đó họ sẽ chạy ra ngoài, tìm khắp trang
    trại, trèo lên cây và leo lên tầng áp mái của khu chuồng trại. Cuối cùng, họ
    sẽ quay lên núi.

    Lúc ấy trời đã sẩm tối – khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi đêm
    xuống, khi quang cảnh chỉ hiện ra lờ mờ, và bạn cảm nhận thế giới xung
    quanh mình rõ hơn là nhìn thấy. Tôi mường tượng ra các anh mình tỏa ra
    trên núi, tìm kiếm trong những khu rừng tối đen. Không ai nói; ý nghĩ của
    tất cả các anh ấy đều giống nhau. Ở trên núi mọi chuyện có thể diễn biến
    xấu một cách đáng sợ. Những vách đá hiện ra bất thình lình. Những con
    ngựa hung dữ của ông tôi chạy lung tung trên những đám cây cần nước độc
    rậm rạp, và có nhiều rắn chuông. Trước đây chúng tôi đã từng tìm kiếm
    một con bê biến mất khỏi khu nuôi gia súc. Trong thung lũng, bạn sẽ tìm
    thấy một con vật bị thương; trên núi, bạn sẽ tìm thấy một con vật đã chết.
    Tôi hình dung ra mẹ tôi đứng ở cửa sau, ánh mắt quét qua đỉnh núi đen
    sẫm, khi bố tôi về nhà nói với mẹ rằng bố và các anh không tìm thấy tôi.
    Chị Audrey của tôi sẽ gợi ý rằng ai đó nên sang hỏi bà nội tôi, và mẹ tôi
    sẽ nói rằng bà đã lên đường đi Arizona từ sáng. Những lời đó sẽ bị bỏ lửng
    một lát, sau đó tất cả mọi người đều biết tôi đã đi đâu. Tôi hình dung ra
    khuôn mặt của bố, đôi mắt đen nheo lại, cái miệng mím chặt vẻ khó chịu
    khi bố quay sang mẹ. “Em nghĩ nó chọn bỏ đi ư?”
    Giọng bố vọng lại nghe chậm và buồn. Sau đó nó bị những âm thanh
    khác từ một ký ức khác được gợi lên – tiếng đế, rồi đến tiếng súng, sau đó
    là sự im lặng.

    Sau này tôi biết rằng đó là một vụ việc mà ai cũng biết – như vụ thảm sát
    Wounded Knee⁠⁠⦾
    ⁠ hoặc vụ Waco⁠⁠⦾
    ⁠ – nhưng khi bố tôi kể cho chúng tôi nghe
    chuyện đó lần đầu tôi cảm thấy như thể ngoài chúng tôi ra không ai trên
    thế giới biết về nó.

    Sự việc bắt đầu vào gần cuối mùa đóng hộp rau quả, mùa mà tất cả
    những đứa trẻ khác có lẽ gọi là “mùa hè”. Gia đình tôi luôn dành những
    tháng ấm áp đóng các loại trái cây dự trữ vào bình, thứ mà bố tôi nói rằng
    chúng tôi cần cho Ngày Tận Thế. Một tối, bố từ bãi phế liệu trở về với
    tâm trạng bứt rứt. Bố đi đi lại lại trong phòng bếp suốt bữa ăn tối, hầu như
    không ăn miếng nào. Chúng tôi phải thu xếp xong mọi việc. Chỉ còn rất ít
    thời gian thôi.
    Cả ngày hôm sau chúng tôi luộc và gọt vỏ đào. Đến lúc mặt trời lặn
    chúng tôi đã dồn trái cây vào đầy hàng tá bình chứa Mason, những chiếc
    bình được xếp theo hàng thẳng tắp, vẫn còn ấm vì trái cây được luộc từ
    nồi áp suất. Bố kiểm tra việc của chúng tôi, đếm các bình trái cây và lẩm
    bẩm một mình, sau đó quay sang mẹ và nói, “Đủ rồi.”
    Tối hôm đó bố tổ chức một cuộc họp gia đình, và chúng tôi tập trung
    quanh bàn ăn, bởi vì nó rộng và dài, đủ chỗ ngồi cho tất cả chúng tôi. Bố
    nói chúng tôi có quyền được biết mình sắp chiến đấu chống lại điều gì. Bố
    đứng ở đầu bàn; bọn tôi ngồi vắt vẻo trên ghế, nhìn đăm đăm những tấm
    gỗ sồi đỏ dày cộp.
    “Có một gia đình ở cách đây không xa,” bố nói. “Họ là những chiến
    binh tự đo. Họ sẽ không để Chính phủ tẩy não các con họ tại các trường
    công, vậy nên người của Liên bang theo dõi họ.” Bố thở những hơi dài và
    chậm. “Người của Liên bang đã bao vây lều của họ, giam lỏng họ ở đó
    trong nhiều tuần, và khi một đứa con của họ đói, một thằng bé, lẻn ra ngoài
    để kiếm cái ăn, người của Liên bang đã bắn chết nó.”
    Tôi nhìn khắp lượt các anh mình. Trước đó tôi chưa từng thấy nỗi sợ
    hãi trên khuôn mặt của Luke.

    “Họ vẫn ở trong lều,” bố nói. “Họ tắt đèn và bò trên sàn, tránh xa các
    cửa ra vào và cửa sổ. Bố không biết họ có bao nhiêu thức ăn. Có lẽ họ sẽ
    chết đói trước khi người của Liên bang bỏ cuộc.”
    Không một ai thốt lên lời. Cuối cùng Luke, mười hai tuổi, hỏi liệu
    chúng tôi có thể giúp gì được không. “Không,” bố nói. “Không ai có thể.
    Họ bị kẹt trong chính ngôi nhà của họ. Nhưng họ có súng, con có thể đoán
    chắc tại sao người của Liên bang lại không xông vào tấn công. Bố ngừng
    nói để ngồi xuống, ngồi gò người trên chiếc ghế bằng động tác chậm chạp
    và cứng nhắc. Trong mắt tôi trông bố già khọm và mệt mỏi. “Chúng ta
    không thể giúp họ, nhưng chúng ta có thể giúp chính mình. Khi người của
    Liên bang tới núi Buck, chúng ta sẽ chuẩn bị sẵn sàng.”
    Đêm đó bố lôi một đống ba lô quân đội cũ từ dưới tầng hầm lên. Bố nói
    đó là những chiếc ba lô để “thoát hiểm”. Cả đêm đó chúng tôi nhét đồ dùng
    thiết yếu vào những chiếc ba lô đó – các loại thảo dược, máy lọc nước, bật
    lửa. Bố đã mua sẵn mấy thùng lương khô của quân đội – và chúng tôi nhét
    lương khô nhiều hết mức có thể vào những chiếc ba lô, mường tượng ra
    lúc chúng tôi đã chạy trốn khỏi nhà và ẩn nấp trong đám cây mận dại gần
    con lạch, chúng tôi sẽ ăn lương khô. Mấy anh trai tôi xếp gọn những khẩu
    súng vào ba lô của mình nhưng tôi chỉ có một con dao nhỏ, và khi chúng tôi
    sắp xếp xong, cái ba lô của tôi to bằng người tôi. Tôi nhờ Luke nhấc nó lên
    một ngăn tủ đựng quần áo của mình, nhưng bố bảo tôi để nó ở chỗ thấp để
    tôi có thể lấy thật nhanh, vậy nên tôi ngủ với cái ba lô đó ở trên giường của
    mình.
    Tôi tập đeo ba lô trên lưng và đeo ba lô chạy – tôi không muốn bị bỏ lại
    phía sau. Tôi tưởng tượng ra cuộc trốn chạy của gia đình mình, một cuộc
    trốn chạy vào ban đêm đến lãnh địa an toàn của nàng công chúa da đỏ. Tôi

    hiểu rằng ngọn núi là đồng minh của chúng tôi. Đối với những người quen
    biết, ngọn núi đó có thể rất tốt, nhưng đối với những kẻ xâm nhập, núi là
    sự phản bội thẳng thừng, và điều này mang lại lợi thế cho chúng tôi.
    Nhưng mà, nếu chúng tôi ẩn nấp trên núi khi người của Liên bang tới, thì
    tại sao chúng tôi lại đóng tất cả những quả đào này vào bình. Chúng tôi
    không thể tha cả nghìn cái bình Mason nặng trịch này lên núi. Hoặc nếu
    chúng tôi cần những trái đào ấy đến vậy thì chúng tôi có thể đào boong-ke
    ở trong nhà như gia đình Weaver và chiến đấu đến cùng chăng?
    Chiến đấu đến cùng dường như là điều có thể xảy ra, nhất là khi, vài
    ngày sau bố tôi về nhà với hơn một tá súng trường quân đội, hầu hết là
    loại SKS, với những cái lưỡi lê màu bạc mỏng quẹt được gấp gọn dưới
    nòng súng. Những khẩu súng ấy được để trong những cái hộp thiếc hẹp và
    được xếp trong một lớp Cosmoline, một chất màu nâu như mỡ lợn cần
    phải được lột ra. Sau khi chúng đã được lau sạch, anh Tyler chọn một khẩu
    và đặt nó lên một tấm nhựa màu đen rồi gói lại, dùng hàng thước băng
    dính màu trắng bạc bó lại. Vác cái gói ấy trên vai, anh mang nó xuống đồi
    và thả nó xuống cạnh cái toa tàu hỏa màu đỏ. Sau đó anh bắt đầu đào. Khi
    cái hố đã rộng và sâu, anh thả khẩu súng xuống đó, và tôi nhìn anh lấp đất
    lên, cơ bắp của anh căng lên vì ráng sức, cằm anh bạnh ra. Chẳng bao lâu
    sau, bố mua một cái máy để chế tạo những viên đạn từ những vỏ đạn đã
    qua sử dụng. Bố nói bây giờ chúng tôi có thể trụ lâu hơn trong thế giằng
    co. Tôi nghĩ đến cái ba lô để "thoát hiểm" của mình và khẩu súng trường
    được giấu gần toa tàu hỏa, và bắt đầu lo lắng về cái máy chế tạo đạn. Nó
    kềnh càng và được đóng chốt vào một cái máy trạm sắt ở trong tầng hầm.
    Nếu bị tấn công bất ngờ thì tôi tính chúng tôi sẽ chẳng có thời gian để

    xuống lấy nó mang đi. Tôi tự hỏi liệu chúng tôi có nên chôn nó cùng với
    khẩu súng trường không.
    Chúng tôi tiếp tục dồn những quả đào vào bình. Tôi không nhớ đã bao
    nhiêu ngày trôi qua hoặc chúng tôi đã bổ sung bao nhiêu bình trái cây vào
    kho dự trữ trước khi bố kể cho chúng tôi nghe thêm về chuyện đó.
    "Randy Weaver đã bị bắn," bố nói, giọng yếu ớt, lập bập. "Ông ta rời
    lều để đi mang xác con trai về, và người của Liên bang đã bắn ông ta."
    Trước đó tôi chưa từng thấy bố khóc, nhưng bây giờ những giọt nước mắt
    rơi thành một dòng chảy xuống từ mũi bố. Bố không lau nước mắt, cứ để
    mặc chúng rơi xuống áo sơ mi. "Vợ ông ta nghe thấy tiếng súng và chạy
    tới cửa sổ, ôm đứa con nhỏ trong tay. Thế rồi tiếng súng thứ hai vang lên."
    Mẹ tội đang ngồi khoanh tay, một bàn tay để trước ngực, tay kia bịt chặt
    miệng. Tôi nhìn đăm đăm xuống mặt vải sơn lót sàn loang lổ trong khi bố
    kể với chúng tôi đứa bé được nhấc khỏi tay mẹ nó, mặt dính máu của
    người mẹ.
    Trước đó, vốn đã mong chờ chuyện phiêu lưu ấy, tôi phần nào muốn
    người của Liên bang tới. Giờ đây tôi cảm thấy thực sự sợ hãi. Tôi hình
    dung ra các anh mình ẩn núp trong bóng tối, những bàn tay đẫm mồ hôi
    trượt trên báng súng. Tôi hình dung ra mẹ, mệt lả và khát khô, lùi xa khỏi
    cửa sổ. Tôi hình dung ra mình nằm sấp trên sàn nhà, bất động và im lặng
    lắng nghe tiếng kêu ghê tai của lũ dế ngoài cánh đồng. Sau đó tôi nhìn thấy
    mẹ đứng lên, đưa tay ra với vòi nước ở bếp. Một tia sáng trắng lóe lên,
    tiếng súng nổ, và mẹ đổ gục xuống. Tôi lao tới để đỡ em bé.
    Bố chưa bao giờ kể cho chúng tôi nghe phần kết của câu chuyện ấy,
    Chúng tôi không có TV hay đài, vậy nên có lẽ chính bố cũng không biết

    chuyện kết thúc ra sao. Điều cuối cùng tôi nhớ bố đã nói về chuyện đó là:
    “Lần tới, đó có thể sẽ là chúng ta.”
    Những lời ấy ám ảnh tôi suốt. Tôi nghe thấy tiếng vọng của chúng
    trong tiếng dế kêu, trong tiếng mứt đào rơi xuống bình thủy tinh, trong
    tiếng kim loại loảng xoảng khi một khẩu SKS được lau chùi. Tôi nghe thấy
    chúng mỗi buổi sáng khi tôi đi qua cái toa tàu hỏa và dừng lại trước đám
    cây tràng sao và cây kế bò mọc lên ở chỗ Tyler đã chôn khẩu súng. Khá lâu
    sau khi bố đã quên sự mặc khải trong sách Isaiah, và mẹ đã lại nhét những
    bình nhựa chứa loại sữa “2% chất béo dùng cho cả gia đình” vào tủ lạnh,
    tôi vẫn còn nhớ đến nhà Weaver.

    Đã gần năm giờ sáng.
    Tôi quay về phòng mình, đầu tôi đầy nghẹt tiếng dế kêu và tiếng súng.
    Trên chiếc giường ở bên dưới, Audrey đang ngáy theo nhịp chậm rãi, mãn
    nguyện, gọi mời tôi cũng làm như vậy. Thay vì thế tôi trèo lên giường của
    mình, ngồi khoanh chân, nhìn ra ngoài cửa sổ. Mốc năm giờ trôi qua. Rồi
    sáu giờ. Lúc bảy giờ bà tôi xuất hiện và tôi nhìn bà đi đi lại lại trên hiên
    nhà bà, quay nhìn lên phía nhà tôi trên đồi một lát. Sau đó ông bà bước lên
    xe, và thẳng tiến ra đường cao tốc.
    Khi xe của ông bà đi rồi, tôi ra khỏi giường ăn một tô ngũ cốc với nước
    lọc. Ở bên ngoài tôi được con dê Kamikaze của Luke đón mừng, gặm áo tôi
    khi tôi bước về phía khu nuôi gia súc. Tôi đi qua chiếc xe go-kart⁠⁠⦾
    ⁠ mà
    Richard cải tiến từ một chiếc máy xén cỏ cũ. Tôi cho lợn ăn, đổ thức ăn
    đầy máng và dắt những con ngựa của ông nội ra bãi cỏ mới. Sau khi làm
    xong mấy việc đó, tôi trèo lên cái toa tàu hỏa và nhìn ra thung lũng. Thật dễ

    để giả vờ rằng cái toa tàu đang chuyển động, chạy băng băng khỏi nơi này,
    rằng bất cứ lúc n...
     
    Gửi ý kiến

    CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ ĐẾN VỚI THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TAM THANH

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay (Gustavơ Lebon)