NHẠC TẾT XUÂN 2026
GIỚI THIÊU SÁCH THÁNG 1: CHỦ ĐỀ MÙA XUÂN
Được Học - Tara Westover

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:13' 15-03-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:13' 15-03-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Dành tặng Tyler
Quá khứ đẹp bởi vì con người ta không bao giờ hiểu rõ một cảm
xúc ở thời điểm đó. Mãi đến sau này cảm xúc đó mới phát triển,
vậy nên chúng ta không có được những cảm xúc trọn vẹn về hiện
tại, mà chỉ về quá khứ.
— Virginia Woolf
Cuối cùng thì tôi cũng tin rằng giáo dục chắc hẳn được hình thành
nhờ những kinh nghiệm được tái thiết liên tục; rằng quá trình và
mục đích của giáo dục là một và như nhau mà thôi.
— John Dewey
Lời chú giải của tác giả
Câu chuyện này không xoay quanh phái Mặc Môn. Và nó cũng không nói
về một đức tin tôn giáo nào khác. Trong câu chuyện có khá nhiều kiểu
người, người là tín đồ, người không; rồi thì người tử tế, người không. Tác
giả không tán thành bất cứ sự đối chiếu nào, dù là tích cực hay tiêu cực,
giữa những kiểu người đó.
Những tên gọi dưới đây (theo thứ tự bảng chữ cái) là hư cấu: Aaron,
Audrey, Benjamin, Emily, Erin, Faye, Gene, Judy, Peter, Robert, Robin,
Sadie, Shannon, Shawn, Susan, Vanessa.
Một số chú thích được đưa vào cuốn sách này là để những ký ức khác với
ký ức của tôi có tiếng nói. Những ghi chú liên quan đến hai câu chuyện –
chuyện Luke bị bỏng và chuyện Shawn ngã từ tấm nâng – là quan trọng và
cần dẫn giải thêm.
Trong cả hai sự việc nói trên, những chi tiết không nhất quán giữa hai
lời kể là khá nhiều và đa dạng. Nói về chuyện Luck bị bỏng. Mọi người có
mặt ngày hôm ấy hoặc có nhìn thấy một người nào đó, hoặc không. Bố tôi
nhìn thấy Luke, và Luke nhìn thấy bố. Luke nhìn thấy tôi, nhưng tôi không
nhìn thấy bố và bố không nhìn thấy tôi. Tôi nhìn thấy Richard và Richard
nhìn thấy tôi, nhưng Richard không nhìn thấy bố, và cả bố lẫn Luke đều
không nhìn thấy Richard. Điều gì đã tạo lên mâu thuẫn như trò kéo quân
vậy? Sau khi tất cả đã quay vòng tròn, khi tiếng nhạc cuối cùng cũng
ngừng lại, người duy nhất mà mọi người đều nhất trí rằng đã có mặt ở đó
ngày hôm ấy, là Luke.
Chuyện Shawn ngã từ trên tấm nâng xuống thậm chí còn gây bối rối
hơn. Tôi không có mặt ở đó, tôi chỉ kể lại những gì được kể cho nghe,
nhưng tôi tin rằng đó là sự thật bởi nhiều năm trước tôi đã nghe nhiều
người kể như vậy, và bởi vì Tyler cũng nghe kể y như thế. Mười lăm năm
sau, anh vẫn nhớ chuyện đó giống hệt tôi đã nhớ. Vậy nên tôi đưa nó vào
trang viết. Nhưng một phiên bản khác của chuyện này xuất hiện. Chẳng
đợi chờ gì hết, phiên bản ấy khẳng định, máy bay trực thăng được gọi tới
ngay tức khắc.
Nếu nói rằng những chi tiết này không quan trọng thì đó là tôi nói dối;
rằng dù bạn tin lời kể nào thì “bức tranh toàn cảnh” vẫn không thay đổi.
Những chi tiết ấy quan trọng đấy. Bố tôi bảo Luke xuống núi một mình,
hay bố đã không làm thế; bố đã để Shawn ngồi dưới nắng với chấn
thương nghiêm trọng ở đầu, hay bố không làm thế. Một người bố khác,
một con người khác, được sinh ra từ những chi tiết đó.
Về chuyện Shawn ngã, tôi không biết tin vào lời kể nào. Đáng chú ý
hơn, tôi không biết nên tin vào phiên bản nào của chuyện Luke bị bỏng, mà
tôi có mặt ở đó hẳn hoi. Tôi có thể trở lại thời điểm đó. Luke ở trên cỏ. Tôi
nhìn xung quanh. Chẳng có ai khác ở đó, không thấy bóng bố tôi đâu, thậm
chí không hề có ý niệm bố tôi đang xốc tới ở bên rìa ký ức của tôi. Bố
không ở đó. Nhưng trong ký ức của Luke, bố ở đó, nhẹ nhàng đặt anh vào
bồn tắm, cho anh dùng thuốc vi lượng đồng căn để chống sốc.
Điều tôi rút ra từ chuyện này là việc điều chỉnh lại, không phải ký ức
của tôi mà cách hiểu của tôi. Tất cả chúng ta đều phức tạp hơn những vai
mà chúng ta được phân cho trong những câu chuyện mà người khác kể.
Đây là điều đặc biệt đúng trong các gia đình. Khi một trong những người
anh của tôi lần đầu tiên đọc lời kể của tôi về cú ngã của Shawn, anh ấy đã
viết cho tôi: "Anh không thể tưởng tượng nổi là bố gọi 911. Thà Shawn
chết." Nhưng có thể không. Có lẽ, sau khi biết con trai mình bị vỡ sọ, bố
tôi không còn là người mà vốn dĩ chúng tôi nghĩ là ông, và cũng không
phải cái người mà nhiều năm sau này chúng tôi coi là ông. Tôi luôn biết
rằng bố tôi yêu con cái, yêu mãnh liệt; tôi luôn tin rằng mối thù ghét các
bác sĩ ở ông còn mạnh mẽ hơn. Nhưng có thể không. Có lẽ, vào thời điểm
đó, thời điểm khủng hoảng thực sự, tình yêu của ông đã chiến thắng cả nỗi
sợ hãi lẫn mối thù ghét trong ông.
Có lẽ bi kịch thực sự là, bố tôi có thể sống trong tâm trí chúng tôi, trong
tâm trí các anh tôi và tôi, theo cách này, bởi phản ứng của ông vào những
thời điểm khác – hàng nghìn sự việc nhỏ nhặt hơn và các khủng hoảng ít
nghiêm trọng hơn – đã khiến chúng tôi thấy ông trong vai đó. Tin rằng nếu
chúng tôi ngã, bố sẽ không can thiệp. Thà chúng tôi chết.
Tất cả chúng ta đều phức tạp hơn những vai mà ta được phân cho trong
các câu chuyện. Không điều gì tiết lộ sự thật đối với tôi hơn việc viết tự
truyện này – cố gắng giữ những người tôi yêu mến trên trang sách, để nắm
bắt toàn bộ ý nghĩa về họ trong vài từ, việc mà tất nhiên là bất khả thi. Đây
là điều tốt nhất tôi có thể làm: kể câu chuyện khác song song với chuyện
tôi nhớ được. Về một ngày hè, một đám cháy, mùi thịt cháy, và một người
cha giúp con trai mình xuống núi.
Lời tựa
Tôi đang đứng trên nóc toa tàu hỏa bị vứt bỏ cạnh khu chuồng trại. Gió
thổi ào ào làm tóc tôi bay lòa xòa khắp mặt và đẩy cái lạnh xuống cổ áo sơ
mi không cài cúc của tôi. Càng tới gần núi, những cơn gió càng mạnh, như
thể chính đỉnh núi đang thở ra gió vậy. Ở phía dưới, thung lũng thanh bình
và yên ả. Trong khi đó trang trại của chúng tôi đang múa: những cây tùng
khế đung đưa, đám ngải đắng và những cây kế rung rinh, uốn cong trước
mỗi luồng gió thổi ào qua và trước mỗi lỗ hổng không khí. Phía sau tôi,
sườn đồi cao dần, cao dần rồi nối vào chân núi. Nếu tôi ngước lên, tôi có
thể nhìn thấy hình dáng của nàng công chúa da đỏ hiện ra đen sẫm.
Quả đồi được phủ một thảm lúa mỳ mọc hoang. Nếu như đám tùng và
ngải đắng là những nghệ sĩ độc diễn thì cánh đồng lúa mỳ là một vũ đoàn
ba-lê, mỗi thân lúa đều hòa theo những thân lúa khác trong chuyển động vỡ
òa, cả triệu vũ công ba-lê uốn mình, hết lượt này sang lượt khác, khi gió
đập mạnh những cái đầu màu vàng sẫm của chúng xuống. Cảnh đó chỉ diễn
ra trong thoáng chốc, gần như khi ai đó bắt đầu nhìn thấy gió.
Quay đầu về phía nhà chúng tôi trên sườn đồi, tôi nhìn thấy những
chuyển động khác, những cái bóng cao cứng nhắc di chuyển qua những
luồng gió. Các anh trai tôi đã thức dậy, đang ra ngoài xem thời tiết như thế
nào. Tôi hình dung mẹ tôi đang ở bên lò nướng, canh mẻ bánh kếp. Tôi
hình dung ra bố tôi cúi lom khom gần cửa sau, buộc dây đôi giày mũi thép
của ông và xỏ đôi tay đầy vết chai vào đôi găng tay của thợ hàn. Trên
đường cao tốc ở phía dưới, chiếc xe buýt của trường học chạy qua mà
không hề dừng lại.
Tôi mới bảy tuổi, nhưng tôi đã hiểu một điều, hơn bất cứ điều gì khác,
điều này khiến gia đình tôi trở nên khác biệt: Chúng tôi không đến trường.
Bố lo rằng Chính phủ sẽ buộc anh chị em tôi phải đến trường, nhưng
không thể, bởi vì Chính phủ không biết về sự tồn tại của chúng tôi. Bốn
trong số bảy đứa con của bố mẹ tôi không có giấy khai sinh. Chúng tôi
không có sổ khám chữa bệnh bởi vì chúng tôi được sinh tại nhà và chưa
bao giờ đi khám bác sĩ hoặc y tá⦾
. Chúng tôi không có hồ sơ ở trường học
bởi vì chúng tôi chưa bao giờ đặt chân đến lớp học. Khi tôi chín tuổi, tôi sẽ
thuộc diện làm giấy khai sinh muộn, nhưng bây giờ, theo bang Idaho và
Chính phủ Liên bang, tôi không tồn tại.
Dĩ nhiên tôi có tồn tại. Tôi lớn lên chuẩn bị cho Ngày Tận Thế, chờ mặt
trời tối sầm lại, chờ mặt trăng nhỏ giọt như nhỏ máu. Mùa hè nào cũng như
mùa hè nào, tôi dồn những quả đào vào các bình chứa, còn mùa đông tôi
quay vòng đồ dự trữ. Khi thế giới của con người sụp đổ, gia đình tôi sẽ vẫn
tiếp tục tồn tại, chẳng bị ảnh hưởng gì.
Tôi được giáo dục theo nhịp của núi, những nhịp điệu chẳng mấy khi
thay đổi mà chỉ mang tính tuần hoàn. Sáng nào cũng như sáng nào, vầng
mặt trời ấy xuất hiện, quét qua thung lũng, và trôi xuống phía sau đỉnh núi.
Tuyết rơi vào mùa đông, luôn tan vào mùa xuân. Cuộc sống của chúng tôi
là một vòng tuần hoàn – của ngày, của mùa – những vòng tuần hoàn của sự
thay đổi không ngừng mà khi hoàn tất lại có nghĩa rằng chẳng có gì thay
đổi hết. Tôi tin gia đình mình là một phần của khuôn mẫu vĩnh cửu này,
rằng theo một nghĩa nào đó, chúng tôi bất diệt. Nhưng sự bất diệt chỉ thuộc
về ngọn núi kia mà thôi.
Có một câu chuyện mà bố tôi thường kể về đỉnh núi ấy. Nàng là điều gì
đó thật cổ xưa, uy nghi, là thánh đường của một dãy núi. Dãy núi đó có
những ngọn núi khác, cao hơn, uy nghi hơn, nhưng đỉnh Buck được tạo
hình đẹp nhất. Chân núi trải ra cả dặm, hình hài sẫm đen của nó phình ra từ
mặt đất và vươn lên thành một chóp nhọn hoàn mỹ. Từ xa bạn có thể nhìn
thấy vẻ đẹp ấn tượng của thân hình một người đàn bà trên rặng núi: đôi
chân nàng hình thành từ những hẻm núi khổng lồ, tóc nàng là những nhành
thông xòa trên đỉnh núi phía Bắc. Dáng đứng của nàng oai nghiêm, một
chân duỗi về phía trước trong một động tác đầy uy lực, giống đang sải
bước hơn là bước đi bình thường.
Bố tôi gọi đó là Nàng Công Chúa Da Đỏ. Hằng năm nàng xuất hiện khi
tuyết bắt đầu tan, mặt hướng về phía Nam, nhìn lũ trâu trở về thung lũng.
Bố nói những người da đỏ sống du mục chờ sự xuất hiện của nàng như
chờ một dấu hiệu báo xuân cho biết tuyết trên núi đang tan, mùa đông đã
trôi qua, và đã đến lúc trở về nhà.
Tất cả những câu chuyện của bố đều là về ngọn núi, thung lũng, về khu
đất lởm chởm của chúng tôi ở Idaho. Bố chưa bao giờ dạy tôi phải làm gì
nếu tôi xuống núi, nếu tôi vượt đại dương, đi xuyên lục địa và nhận ra
mình đang ở trên một vùng đất xa lạ, nơi tôi chẳng thể tìm nàng công chúa
da đỏ phía chân trời. Bố chưa bao giờ dạy tôi làm thế nào để biết đã đến
lúc phải về nhà.
Phần 1
Chương 1
Chọn Điều Lành
Ký ức dai dẳng nhất của tôi thực ra chẳng phải là ký ức. Nó là chuyện mà
tôi tưởng tượng ra, sau đó ghi nhớ như thể nó đã xảy ra thật. Ký ức đó
được hình thành khi tôi năm tuổi, ngay trước khi tôi bước sang tuổi lên sáu,
từ một câu chuyện mà bố đã kể tỉ mỉ đến nỗi tôi và các anh chị tôi mỗi
người đều tạo ra trong đầu một phiên bản như một bộ phim của riêng mình,
với súng đạn và tiếng la hét. Phiên bản của tôi có những con dế. Đó là âm
thanh tôi nghe thấy khi gia đình tôi túm tụm vào nhau ở trong bếp, tắt hết
đèn, ẩn trốn người của Liên bang đang bao vây nhà của chúng tôi. Một
người phụ nữ mò vào bếp lấy nước uống và cái bóng đen của người đó
được ánh trăng soi rõ. Một tiếng súng vọng tới nghe đét một cái như tiếng
quất roi và cô ta gục xuống. Trong ký ức của tôi luôn luôn là mẹ gục xuống
và mẹ bế một đứa bé trên tay.
Mẹ bế đứa bé nào kia chứ, thật vô lý – tôi là con út trong bảy đứa con
của mẹ – nhưng như tôi đã nói, chuyện này không có thật.
Một năm sau khi bố kể cho chúng tôi nghe chuyện đó, một buổi tối
chúng tôi ngồi quây quần nghe bố đọc sách của nhà tiên tri Isaiah, một lời
tiên tri về Chúa Cứu Thế. Bố ngồi trên ghế sofa màu mù tạt, cuốn Kinh
Thánh to tướng để mở trong lòng. Mẹ ngồi bên cạnh bố. Anh chị em chúng
tôi ngồi ngả ngốn trên tấm thảm nâu sờn cũ.
“Người sẽ ăn bơ và mật ong,” bố đọc bằng giọng đều đều, chậm rề, mệt
mỏi sau một ngày dài vận chuyển phế liệu. “Và người có thể biết khước từ
cái xấu, chọn điều lành”.
Tiếp theo là một khoảng tạm ngừng nặng nề. Chúng tôi ngồi im lặng.
Bố không phải là một người đàn ông cao lớn nhưng có thể chỉ huy cả
phòng. Bố có cái vẻ uy nghiêm của một nhà tiên tri. Đôi tay bố to bản với
lớp da dày – đôi bàn tay của một người đàn ông đã lao động cật lực cả đời
– và đôi tay ấy cầm chắc cuốn Kinh Thánh.
Bố đọc rõ to đoạn đó lần thứ hai, rồi lần thứ ba, lần thứ tư. Cứ mỗi lần
đọc lại, giọng bố lại cao hơn. Đôi mắt của bố, mới mấy phút trước sụp
xuống vì mệt mỏi giờ đây đã mở to, đầy tỉnh táo. Bố nói, có một giáo lý
thiêng liêng ở đây. Bố sẽ cầu vấn Chúa.
Sáng hôm sau bố dọn sạch sữa, sữa chua và pho mát trong tủ lạnh nhà
chúng tôi đi, và tối hôm đó khi bố về nhà, chiếc xe tải nhỏ của bố chở tới
năm mươi can mật ong.
“Sách Isaiah không nói thứ nào xấu, bơ hay mật ong,” bố vừa nói vừa
cười xếch đến mang tai trong khi các anh tôi kéo lê những can mật ong vào
hầm chứa thực phẩm. “Nhưng nếu các con hỏi thì Chúa sẽ nói cho các con
biết!”
Khi bố đọc đoạn đó cho bà nội tôi nghe, bà cười vào mặt bố. “Mẹ có vài
xu trong ví đấy,” bà nói. “Anh nên lấy chúng đi. Chúng sẽ là toàn bộ sự
minh mẫn mà anh có.
Bà tôi có khuôn mặt mỏng, trơ xương và một kho bất tận những đồ giả
nữ trang của người da đỏ, tất cả đều bằng bạc và mai rùa, được đeo thành
chùm, thành búi trên cái cổ gầy nhằng và những ngón tay mảnh khảnh của
bà. Bởi vì bà sống ở dưới chân đồi, gần đường cao tốc, chúng tôi gọi bà là
bà-ở-chân-đồi. Đây là cách gọi để phân biệt bà với bà ngoại của chúng tôi,
người mà chúng tôi gọi là bà-trong-thị-trấn bởi vì bà sống cách chỗ chúng
tôi mười lăm dặm về phía nam, trong cái thị trấn duy nhất của hạt, nơi có
mỗi một trạm đèn giao thông và một cửa hàng tạp hóa.
Bố tôi và bà nội gắn bó như hai con mèo bị buộc đuôi vào nhau. Họ có
thể nói chuyện với nhau cả tuần mà không đồng quan điểm về bất cứ điều
gì, nhưng họ vẫn được ràng buộc bởi cả hai đều sùng kính ngọn núi. Gia
đình của bố đã sống dưới đỉnh núi Buck nửa thế kỷ. Những người con gái
của bà tôi đã lấy chồng và chuyển đi nơi khác, nhưng bố tôi ở lại, dựng
một ngôi nhà màu vàng đơn sơ, ngôi nhà mà bố chưa bao giờ hoàn thiện
xong, ngay trên sườn đồi, trong khi nhà mẹ đẻ của bố ở chân đồi, và ném
cả một đống đồng nát – một trong vài đống – ngay cạnh bãi cỏ được xén
tỉa cẩn thận của bà.
Họ bất đồng với nhau hằng ngày về bãi đồng nát lộn xộn ấy nhưng bất
đồng với nhau thường xuyên hơn về lũ trẻ chúng tôi. Bà nghĩ chúng tôi
nên đi học, như bà nói, và không “lang thang trên núi như những kẻ ăn lông
ở lỗ”. Bố nói, trường công là một thủ đoạn của Chính phủ nhằm khiến bọn
trẻ xa rời Chúa. “Nếu con cho các con mình đi học ở cái trường dưới
đường cái kia thì có khác nào con giao chúng cho quỷ dữ,” bố nói.
Chúa bảo bố chia sẻ khải thị đó với những người sống và canh tác dưới
cái bóng của đỉnh núi Buck. Vào các ngày Chủ nhật, gần như tất cả mọi
người đều tập trung tại nhà thờ, một nhà thờ được sơn màu hồ đào, nằm
tách khỏi đường cao tốc, với cái tháp chuông nhỏ, giản dị thường thấy ở
các nhà thờ Mặc Môn. Bố buộc các ông bố khác phải nghe mình nói, khi
họ rời những băng ghế của nhà thờ. Bố bắt đầu với người em họ của mình,
chú Jim, người đã từ tốn lắng nghe trong khi bố ve vẩy cuốn Kinh Thánh
và giải thích về tội lỗi của sữa. Chú Jim cười xếch đến mang tai, rồi vỗ vai
bố tôi, nói rằng không vị Chúa công bằng nào lại tước đi của một con
người cái thú thưởng thức kem dâu tây nhà làm vào một trưa hè nóng nực.
Vợ của chú Jim giật tay áo chú. Khi chú đi qua chỗ chúng tôi, tôi thoáng
ngửi thấy mùi phân bón. Rồi tôi sực nhớ: trang trại bò sữa lớn cách núi
Buck một dặm là của chú Jim.
Sau khi bố bắt đầu bài thuyết giảng bài trừ sữa, bà nhét sữa đầy ặc tủ lạnh
của bà. Ông bà chỉ uống sữa tách béo, nhưng chẳng bao lâu sau khi tất cả
những thứ ấy được chất ở đó – ông bà dùng cả sữa chứa hai phần trăm
chất béo, sữa nguyên kem, thậm chí sô-cô-la. Dường như bà tin đây là một
phương pháp ăn uống quan trọng để duy trì.
Bữa sáng trở thành một cuộc thử thách lòng trung thành. Mỗi sáng gia
đình tôi ngồi quanh cái bàn rộng bằng gỗ sồi đỏ được gia công lại và ăn
ngũ cốc bảy loại hạt cùng mật ong và mật đường, hoặc bánh kếp làm từ
bảy loại ngũ cốc, cũng với mật ong và mật đường. Bởi vì có tận chín người
chúng tôi nên những chiếc bánh kếp chẳng bao giờ được nướng kỹ. Tôi
không phiền vì ăn món ngũ cốc nếu tôi có thể trộn nó vào sữa, để kem
quyện bột ngũ cốc lại và tạo thành những viên ngũ cốc, nhưng từ khi có
khải thị kia chúng tôi ăn ngũ cốc với nước lọc. Ăn như thế chẳng khác gì
ăn một tô bùn.
Chẳng bao lâu sau, tôi bắt đầu nghĩ đến tất cả những loại sữa đang thiu
ra trong tủ lạnh của bà nội. Sau đó tôi hình thành thói quen bỏ bữa sáng
hằng ngày và đi thẳng tới chuồng nuôi gia súc. Tôi đổ nước gạo cho lợn
ăn, đổ đầy thức ăn vào máng cho bò và ngựa, sau đó tôi nhảy qua hàng rào
của bãi quây gia súc, đi vòng ra phía sau và lẻn vào cửa ngách nhà bà tôi.
Vào một buổi sáng như thế, khi tôi đang ngồi tại bàn quầy nhìn bà tôi
đổ bánh bột ngô ra bát tô, bà hỏi, “Cháu có thích đến trường lắm không?”
“Cháu không thích đâu ạ,” tôi nói.
“Làm sao cháu biết được chứ,” bà quát. “Cháu đã bao giờ thử đâu mà
biết.”
Bà rót sữa vào tô bánh bột ngô và đưa nó cho tôi, sau đó bà ngồi trên
chiếc ghế đẩu, đối diện với tôi ở phía bên kia bàn quầy, và nhìn tôi xúc
những thìa đầy thức ăn vào miệng.
“Ngày mai ông bà sẽ lên đường đi Arizona,” bà nói với tôi, nhưng tôi đã
biết điều đó rồi. Ông bà luôn đi Arizona khi thời tiết bắt đầu thay đổi. Ông
nói ông quá già để chịu đựng mùa đông Idaho; cái lạnh khiến ông buốt
thấu xương. “Mai cháu hãy dậy thật sớm,” bà nói, “khoảng năm giờ, ông
bà sẽ đưa cháu đi cùng. Bọn ta sẽ cho cháu đến trường.”
Tôi cựa quậy trên ghế. Tôi cố mường tượng ra trường học nhưng không
thể. Thay vào đó tôi hình dung ra lớp học giáo lý ngày Chủ nhật mà tuần
nào tôi cũng tham gia và tôi ghét. Một thằng con trai tên là Aaron đã nói
với tất cả những đứa con gái trong lớp giáo lý rằng tôi không biết đọc bởi
vì tôi không đến trường, và bây giờ không đứa nào thèm nói chuyện với
tôi.
“Bố nói cháu có thể đi ư?” Tôi nói.
“Không,” bà nói. “Nhưng khi bố cháu hiểu ra rằng cháu đã biến mất, thì
chúng ta đã đi từ lâu rồi.” Bà đặt cái bát của tôi vào bồn rửa và nhìn ra
ngoài cửa sổ.
Bà là người có tính cách mạnh mẽ – không chịu ngồi yên, hiếu chiến, tự
tin. Nhìn bà là để lùi một bước. Bà nhuộm tóc đen và điều này tôn thêm
những nét vốn đã dữ dội của bà, nhất là hai hàng lông mày mà sáng nào bà
cũng vẽ thành hai đường vòng cung đậm, đen như mực. Bà kẻ lông mày
quá rộng và điều này khiến khuôn mặt bà bị kéo giãn ra. Chúng cũng được
vẽ quá cao khiến những đường nét khác trên khuôn mặt bà mang một vẻ
buồn tẻ, gần như mỉa mai.
“Cháu nên đến trường,” bà nói.
“Bố sẽ không bắt bà phải đưa cháu về chứ ạ?” Tôi hỏi.
“Bố cháu không thể khiến bà làm bất cứ điều chết tiệt nào hết.” Bà
đứng dậy, đứng với tư thế vững chãi. “Nếu bố cháu muốn có cháu, thì bố
phải đến đón cháu.” Bà ngập ngừng, và trong chốc lát trông bà có vẻ xấu
hổ. “Hôm qua ta đã nói chuyện với bố cháu rồi. Trong một thời gian dài bố
cháu sẽ không thể đến đưa cháu về được. Bố cháu đang bận với cái lán mà
bố cháu xây dựng trong thị trấn. Bố cháu không thể dừng việc đó lại và lái
xe tới Arizona, không thể trong khi thời tiết ổn định và bố cháu cùng mấy
đứa con trai có thể làm việc suốt những ngày dài.”
Kế hoạch của bà đã được tính toán cẩn thận. Bố tôi luôn làm việc từ lúc
mặt trời mọc tới lúc mặt trời lặn trong những tuần trước khi xuất hiện đợt
tuyết rơi đầu tiên, cố dự trữ đủ tiền từ việc gom phế liệu và xây dựng
chuồng trại để chúng tôi có thể tồn tại qua mùa đông, khi mà việc làm trở
nên khan hiếm. Dù bà tôi bỏ trốn cùng với đứa con út của bố, thì bố cũng
sẽ chẳng thể ngừng làm việc được, cho tới khi cái xe nâng của bố bị bọc
trong băng tuyết.
“Cháu cần phải cho các con vật ăn trước khi chúng ta đi,” tôi nói. “Chắc
chắn bố sẽ biết cháu đi nếu lũ bò phá hàng rào đi tìm nước uống.”
Đêm đó tôi không ngủ. Tôi ngồi trên sàn bếp nhìn thời gian trôi, qua chiếc
đồng hồ treo tường. Một giờ sáng. Hai giờ. Ba giờ.
Bốn giờ tôi đứng dậy, đặt đôi giày ống của mình ở cạnh cửa sau. Phân
đóng bánh lại quanh giày, và tôi chắc chắn bà sẽ không cho tôi tha đôi giày
ấy lên xe hơi của bà. Tôi hình dung ra đôi giày bị bỏ lại trên hiên nhà bà,
trong khi tôi chân trần bỏ trốn đến Arizona.
Tôi mường tượng những gì sẽ xảy ra khi gia đình phát hiện ra tôi đã
biến mất. Anh Richard và tôi thường ở cả ngày trên núi, vậy nên có thể
không ai phát hiện ra chuyện đó cho tới khi mặt trời lặn, khi Richard về
nhà ăn tối mà tôi thì không. Tôi hình dung ra các anh tôi chạy túa ra khỏi
cửa để tìm tôi. Các anh ấy sẽ thử tìm ở bãi phế liệu trước tiên, nhấc các
tấm thép lên phòng khi các tấm thép nằm ngốn ngang đã xê dịch và khiến
tôi mắc kẹt trong đống phế liệu. Sau đó họ sẽ chạy ra ngoài, tìm khắp trang
trại, trèo lên cây và leo lên tầng áp mái của khu chuồng trại. Cuối cùng, họ
sẽ quay lên núi.
Lúc ấy trời đã sẩm tối – khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi đêm
xuống, khi quang cảnh chỉ hiện ra lờ mờ, và bạn cảm nhận thế giới xung
quanh mình rõ hơn là nhìn thấy. Tôi mường tượng ra các anh mình tỏa ra
trên núi, tìm kiếm trong những khu rừng tối đen. Không ai nói; ý nghĩ của
tất cả các anh ấy đều giống nhau. Ở trên núi mọi chuyện có thể diễn biến
xấu một cách đáng sợ. Những vách đá hiện ra bất thình lình. Những con
ngựa hung dữ của ông tôi chạy lung tung trên những đám cây cần nước độc
rậm rạp, và có nhiều rắn chuông. Trước đây chúng tôi đã từng tìm kiếm
một con bê biến mất khỏi khu nuôi gia súc. Trong thung lũng, bạn sẽ tìm
thấy một con vật bị thương; trên núi, bạn sẽ tìm thấy một con vật đã chết.
Tôi hình dung ra mẹ tôi đứng ở cửa sau, ánh mắt quét qua đỉnh núi đen
sẫm, khi bố tôi về nhà nói với mẹ rằng bố và các anh không tìm thấy tôi.
Chị Audrey của tôi sẽ gợi ý rằng ai đó nên sang hỏi bà nội tôi, và mẹ tôi
sẽ nói rằng bà đã lên đường đi Arizona từ sáng. Những lời đó sẽ bị bỏ lửng
một lát, sau đó tất cả mọi người đều biết tôi đã đi đâu. Tôi hình dung ra
khuôn mặt của bố, đôi mắt đen nheo lại, cái miệng mím chặt vẻ khó chịu
khi bố quay sang mẹ. “Em nghĩ nó chọn bỏ đi ư?”
Giọng bố vọng lại nghe chậm và buồn. Sau đó nó bị những âm thanh
khác từ một ký ức khác được gợi lên – tiếng đế, rồi đến tiếng súng, sau đó
là sự im lặng.
Sau này tôi biết rằng đó là một vụ việc mà ai cũng biết – như vụ thảm sát
Wounded Knee⦾
hoặc vụ Waco⦾
– nhưng khi bố tôi kể cho chúng tôi nghe
chuyện đó lần đầu tôi cảm thấy như thể ngoài chúng tôi ra không ai trên
thế giới biết về nó.
Sự việc bắt đầu vào gần cuối mùa đóng hộp rau quả, mùa mà tất cả
những đứa trẻ khác có lẽ gọi là “mùa hè”. Gia đình tôi luôn dành những
tháng ấm áp đóng các loại trái cây dự trữ vào bình, thứ mà bố tôi nói rằng
chúng tôi cần cho Ngày Tận Thế. Một tối, bố từ bãi phế liệu trở về với
tâm trạng bứt rứt. Bố đi đi lại lại trong phòng bếp suốt bữa ăn tối, hầu như
không ăn miếng nào. Chúng tôi phải thu xếp xong mọi việc. Chỉ còn rất ít
thời gian thôi.
Cả ngày hôm sau chúng tôi luộc và gọt vỏ đào. Đến lúc mặt trời lặn
chúng tôi đã dồn trái cây vào đầy hàng tá bình chứa Mason, những chiếc
bình được xếp theo hàng thẳng tắp, vẫn còn ấm vì trái cây được luộc từ
nồi áp suất. Bố kiểm tra việc của chúng tôi, đếm các bình trái cây và lẩm
bẩm một mình, sau đó quay sang mẹ và nói, “Đủ rồi.”
Tối hôm đó bố tổ chức một cuộc họp gia đình, và chúng tôi tập trung
quanh bàn ăn, bởi vì nó rộng và dài, đủ chỗ ngồi cho tất cả chúng tôi. Bố
nói chúng tôi có quyền được biết mình sắp chiến đấu chống lại điều gì. Bố
đứng ở đầu bàn; bọn tôi ngồi vắt vẻo trên ghế, nhìn đăm đăm những tấm
gỗ sồi đỏ dày cộp.
“Có một gia đình ở cách đây không xa,” bố nói. “Họ là những chiến
binh tự đo. Họ sẽ không để Chính phủ tẩy não các con họ tại các trường
công, vậy nên người của Liên bang theo dõi họ.” Bố thở những hơi dài và
chậm. “Người của Liên bang đã bao vây lều của họ, giam lỏng họ ở đó
trong nhiều tuần, và khi một đứa con của họ đói, một thằng bé, lẻn ra ngoài
để kiếm cái ăn, người của Liên bang đã bắn chết nó.”
Tôi nhìn khắp lượt các anh mình. Trước đó tôi chưa từng thấy nỗi sợ
hãi trên khuôn mặt của Luke.
“Họ vẫn ở trong lều,” bố nói. “Họ tắt đèn và bò trên sàn, tránh xa các
cửa ra vào và cửa sổ. Bố không biết họ có bao nhiêu thức ăn. Có lẽ họ sẽ
chết đói trước khi người của Liên bang bỏ cuộc.”
Không một ai thốt lên lời. Cuối cùng Luke, mười hai tuổi, hỏi liệu
chúng tôi có thể giúp gì được không. “Không,” bố nói. “Không ai có thể.
Họ bị kẹt trong chính ngôi nhà của họ. Nhưng họ có súng, con có thể đoán
chắc tại sao người của Liên bang lại không xông vào tấn công. Bố ngừng
nói để ngồi xuống, ngồi gò người trên chiếc ghế bằng động tác chậm chạp
và cứng nhắc. Trong mắt tôi trông bố già khọm và mệt mỏi. “Chúng ta
không thể giúp họ, nhưng chúng ta có thể giúp chính mình. Khi người của
Liên bang tới núi Buck, chúng ta sẽ chuẩn bị sẵn sàng.”
Đêm đó bố lôi một đống ba lô quân đội cũ từ dưới tầng hầm lên. Bố nói
đó là những chiếc ba lô để “thoát hiểm”. Cả đêm đó chúng tôi nhét đồ dùng
thiết yếu vào những chiếc ba lô đó – các loại thảo dược, máy lọc nước, bật
lửa. Bố đã mua sẵn mấy thùng lương khô của quân đội – và chúng tôi nhét
lương khô nhiều hết mức có thể vào những chiếc ba lô, mường tượng ra
lúc chúng tôi đã chạy trốn khỏi nhà và ẩn nấp trong đám cây mận dại gần
con lạch, chúng tôi sẽ ăn lương khô. Mấy anh trai tôi xếp gọn những khẩu
súng vào ba lô của mình nhưng tôi chỉ có một con dao nhỏ, và khi chúng tôi
sắp xếp xong, cái ba lô của tôi to bằng người tôi. Tôi nhờ Luke nhấc nó lên
một ngăn tủ đựng quần áo của mình, nhưng bố bảo tôi để nó ở chỗ thấp để
tôi có thể lấy thật nhanh, vậy nên tôi ngủ với cái ba lô đó ở trên giường của
mình.
Tôi tập đeo ba lô trên lưng và đeo ba lô chạy – tôi không muốn bị bỏ lại
phía sau. Tôi tưởng tượng ra cuộc trốn chạy của gia đình mình, một cuộc
trốn chạy vào ban đêm đến lãnh địa an toàn của nàng công chúa da đỏ. Tôi
hiểu rằng ngọn núi là đồng minh của chúng tôi. Đối với những người quen
biết, ngọn núi đó có thể rất tốt, nhưng đối với những kẻ xâm nhập, núi là
sự phản bội thẳng thừng, và điều này mang lại lợi thế cho chúng tôi.
Nhưng mà, nếu chúng tôi ẩn nấp trên núi khi người của Liên bang tới, thì
tại sao chúng tôi lại đóng tất cả những quả đào này vào bình. Chúng tôi
không thể tha cả nghìn cái bình Mason nặng trịch này lên núi. Hoặc nếu
chúng tôi cần những trái đào ấy đến vậy thì chúng tôi có thể đào boong-ke
ở trong nhà như gia đình Weaver và chiến đấu đến cùng chăng?
Chiến đấu đến cùng dường như là điều có thể xảy ra, nhất là khi, vài
ngày sau bố tôi về nhà với hơn một tá súng trường quân đội, hầu hết là
loại SKS, với những cái lưỡi lê màu bạc mỏng quẹt được gấp gọn dưới
nòng súng. Những khẩu súng ấy được để trong những cái hộp thiếc hẹp và
được xếp trong một lớp Cosmoline, một chất màu nâu như mỡ lợn cần
phải được lột ra. Sau khi chúng đã được lau sạch, anh Tyler chọn một khẩu
và đặt nó lên một tấm nhựa màu đen rồi gói lại, dùng hàng thước băng
dính màu trắng bạc bó lại. Vác cái gói ấy trên vai, anh mang nó xuống đồi
và thả nó xuống cạnh cái toa tàu hỏa màu đỏ. Sau đó anh bắt đầu đào. Khi
cái hố đã rộng và sâu, anh thả khẩu súng xuống đó, và tôi nhìn anh lấp đất
lên, cơ bắp của anh căng lên vì ráng sức, cằm anh bạnh ra. Chẳng bao lâu
sau, bố mua một cái máy để chế tạo những viên đạn từ những vỏ đạn đã
qua sử dụng. Bố nói bây giờ chúng tôi có thể trụ lâu hơn trong thế giằng
co. Tôi nghĩ đến cái ba lô để "thoát hiểm" của mình và khẩu súng trường
được giấu gần toa tàu hỏa, và bắt đầu lo lắng về cái máy chế tạo đạn. Nó
kềnh càng và được đóng chốt vào một cái máy trạm sắt ở trong tầng hầm.
Nếu bị tấn công bất ngờ thì tôi tính chúng tôi sẽ chẳng có thời gian để
xuống lấy nó mang đi. Tôi tự hỏi liệu chúng tôi có nên chôn nó cùng với
khẩu súng trường không.
Chúng tôi tiếp tục dồn những quả đào vào bình. Tôi không nhớ đã bao
nhiêu ngày trôi qua hoặc chúng tôi đã bổ sung bao nhiêu bình trái cây vào
kho dự trữ trước khi bố kể cho chúng tôi nghe thêm về chuyện đó.
"Randy Weaver đã bị bắn," bố nói, giọng yếu ớt, lập bập. "Ông ta rời
lều để đi mang xác con trai về, và người của Liên bang đã bắn ông ta."
Trước đó tôi chưa từng thấy bố khóc, nhưng bây giờ những giọt nước mắt
rơi thành một dòng chảy xuống từ mũi bố. Bố không lau nước mắt, cứ để
mặc chúng rơi xuống áo sơ mi. "Vợ ông ta nghe thấy tiếng súng và chạy
tới cửa sổ, ôm đứa con nhỏ trong tay. Thế rồi tiếng súng thứ hai vang lên."
Mẹ tội đang ngồi khoanh tay, một bàn tay để trước ngực, tay kia bịt chặt
miệng. Tôi nhìn đăm đăm xuống mặt vải sơn lót sàn loang lổ trong khi bố
kể với chúng tôi đứa bé được nhấc khỏi tay mẹ nó, mặt dính máu của
người mẹ.
Trước đó, vốn đã mong chờ chuyện phiêu lưu ấy, tôi phần nào muốn
người của Liên bang tới. Giờ đây tôi cảm thấy thực sự sợ hãi. Tôi hình
dung ra các anh mình ẩn núp trong bóng tối, những bàn tay đẫm mồ hôi
trượt trên báng súng. Tôi hình dung ra mẹ, mệt lả và khát khô, lùi xa khỏi
cửa sổ. Tôi hình dung ra mình nằm sấp trên sàn nhà, bất động và im lặng
lắng nghe tiếng kêu ghê tai của lũ dế ngoài cánh đồng. Sau đó tôi nhìn thấy
mẹ đứng lên, đưa tay ra với vòi nước ở bếp. Một tia sáng trắng lóe lên,
tiếng súng nổ, và mẹ đổ gục xuống. Tôi lao tới để đỡ em bé.
Bố chưa bao giờ kể cho chúng tôi nghe phần kết của câu chuyện ấy,
Chúng tôi không có TV hay đài, vậy nên có lẽ chính bố cũng không biết
chuyện kết thúc ra sao. Điều cuối cùng tôi nhớ bố đã nói về chuyện đó là:
“Lần tới, đó có thể sẽ là chúng ta.”
Những lời ấy ám ảnh tôi suốt. Tôi nghe thấy tiếng vọng của chúng
trong tiếng dế kêu, trong tiếng mứt đào rơi xuống bình thủy tinh, trong
tiếng kim loại loảng xoảng khi một khẩu SKS được lau chùi. Tôi nghe thấy
chúng mỗi buổi sáng khi tôi đi qua cái toa tàu hỏa và dừng lại trước đám
cây tràng sao và cây kế bò mọc lên ở chỗ Tyler đã chôn khẩu súng. Khá lâu
sau khi bố đã quên sự mặc khải trong sách Isaiah, và mẹ đã lại nhét những
bình nhựa chứa loại sữa “2% chất béo dùng cho cả gia đình” vào tủ lạnh,
tôi vẫn còn nhớ đến nhà Weaver.
Đã gần năm giờ sáng.
Tôi quay về phòng mình, đầu tôi đầy nghẹt tiếng dế kêu và tiếng súng.
Trên chiếc giường ở bên dưới, Audrey đang ngáy theo nhịp chậm rãi, mãn
nguyện, gọi mời tôi cũng làm như vậy. Thay vì thế tôi trèo lên giường của
mình, ngồi khoanh chân, nhìn ra ngoài cửa sổ. Mốc năm giờ trôi qua. Rồi
sáu giờ. Lúc bảy giờ bà tôi xuất hiện và tôi nhìn bà đi đi lại lại trên hiên
nhà bà, quay nhìn lên phía nhà tôi trên đồi một lát. Sau đó ông bà bước lên
xe, và thẳng tiến ra đường cao tốc.
Khi xe của ông bà đi rồi, tôi ra khỏi giường ăn một tô ngũ cốc với nước
lọc. Ở bên ngoài tôi được con dê Kamikaze của Luke đón mừng, gặm áo tôi
khi tôi bước về phía khu nuôi gia súc. Tôi đi qua chiếc xe go-kart⦾
mà
Richard cải tiến từ một chiếc máy xén cỏ cũ. Tôi cho lợn ăn, đổ thức ăn
đầy máng và dắt những con ngựa của ông nội ra bãi cỏ mới. Sau khi làm
xong mấy việc đó, tôi trèo lên cái toa tàu hỏa và nhìn ra thung lũng. Thật dễ
để giả vờ rằng cái toa tàu đang chuyển động, chạy băng băng khỏi nơi này,
rằng bất cứ lúc n...
Quá khứ đẹp bởi vì con người ta không bao giờ hiểu rõ một cảm
xúc ở thời điểm đó. Mãi đến sau này cảm xúc đó mới phát triển,
vậy nên chúng ta không có được những cảm xúc trọn vẹn về hiện
tại, mà chỉ về quá khứ.
— Virginia Woolf
Cuối cùng thì tôi cũng tin rằng giáo dục chắc hẳn được hình thành
nhờ những kinh nghiệm được tái thiết liên tục; rằng quá trình và
mục đích của giáo dục là một và như nhau mà thôi.
— John Dewey
Lời chú giải của tác giả
Câu chuyện này không xoay quanh phái Mặc Môn. Và nó cũng không nói
về một đức tin tôn giáo nào khác. Trong câu chuyện có khá nhiều kiểu
người, người là tín đồ, người không; rồi thì người tử tế, người không. Tác
giả không tán thành bất cứ sự đối chiếu nào, dù là tích cực hay tiêu cực,
giữa những kiểu người đó.
Những tên gọi dưới đây (theo thứ tự bảng chữ cái) là hư cấu: Aaron,
Audrey, Benjamin, Emily, Erin, Faye, Gene, Judy, Peter, Robert, Robin,
Sadie, Shannon, Shawn, Susan, Vanessa.
Một số chú thích được đưa vào cuốn sách này là để những ký ức khác với
ký ức của tôi có tiếng nói. Những ghi chú liên quan đến hai câu chuyện –
chuyện Luke bị bỏng và chuyện Shawn ngã từ tấm nâng – là quan trọng và
cần dẫn giải thêm.
Trong cả hai sự việc nói trên, những chi tiết không nhất quán giữa hai
lời kể là khá nhiều và đa dạng. Nói về chuyện Luck bị bỏng. Mọi người có
mặt ngày hôm ấy hoặc có nhìn thấy một người nào đó, hoặc không. Bố tôi
nhìn thấy Luke, và Luke nhìn thấy bố. Luke nhìn thấy tôi, nhưng tôi không
nhìn thấy bố và bố không nhìn thấy tôi. Tôi nhìn thấy Richard và Richard
nhìn thấy tôi, nhưng Richard không nhìn thấy bố, và cả bố lẫn Luke đều
không nhìn thấy Richard. Điều gì đã tạo lên mâu thuẫn như trò kéo quân
vậy? Sau khi tất cả đã quay vòng tròn, khi tiếng nhạc cuối cùng cũng
ngừng lại, người duy nhất mà mọi người đều nhất trí rằng đã có mặt ở đó
ngày hôm ấy, là Luke.
Chuyện Shawn ngã từ trên tấm nâng xuống thậm chí còn gây bối rối
hơn. Tôi không có mặt ở đó, tôi chỉ kể lại những gì được kể cho nghe,
nhưng tôi tin rằng đó là sự thật bởi nhiều năm trước tôi đã nghe nhiều
người kể như vậy, và bởi vì Tyler cũng nghe kể y như thế. Mười lăm năm
sau, anh vẫn nhớ chuyện đó giống hệt tôi đã nhớ. Vậy nên tôi đưa nó vào
trang viết. Nhưng một phiên bản khác của chuyện này xuất hiện. Chẳng
đợi chờ gì hết, phiên bản ấy khẳng định, máy bay trực thăng được gọi tới
ngay tức khắc.
Nếu nói rằng những chi tiết này không quan trọng thì đó là tôi nói dối;
rằng dù bạn tin lời kể nào thì “bức tranh toàn cảnh” vẫn không thay đổi.
Những chi tiết ấy quan trọng đấy. Bố tôi bảo Luke xuống núi một mình,
hay bố đã không làm thế; bố đã để Shawn ngồi dưới nắng với chấn
thương nghiêm trọng ở đầu, hay bố không làm thế. Một người bố khác,
một con người khác, được sinh ra từ những chi tiết đó.
Về chuyện Shawn ngã, tôi không biết tin vào lời kể nào. Đáng chú ý
hơn, tôi không biết nên tin vào phiên bản nào của chuyện Luke bị bỏng, mà
tôi có mặt ở đó hẳn hoi. Tôi có thể trở lại thời điểm đó. Luke ở trên cỏ. Tôi
nhìn xung quanh. Chẳng có ai khác ở đó, không thấy bóng bố tôi đâu, thậm
chí không hề có ý niệm bố tôi đang xốc tới ở bên rìa ký ức của tôi. Bố
không ở đó. Nhưng trong ký ức của Luke, bố ở đó, nhẹ nhàng đặt anh vào
bồn tắm, cho anh dùng thuốc vi lượng đồng căn để chống sốc.
Điều tôi rút ra từ chuyện này là việc điều chỉnh lại, không phải ký ức
của tôi mà cách hiểu của tôi. Tất cả chúng ta đều phức tạp hơn những vai
mà chúng ta được phân cho trong những câu chuyện mà người khác kể.
Đây là điều đặc biệt đúng trong các gia đình. Khi một trong những người
anh của tôi lần đầu tiên đọc lời kể của tôi về cú ngã của Shawn, anh ấy đã
viết cho tôi: "Anh không thể tưởng tượng nổi là bố gọi 911. Thà Shawn
chết." Nhưng có thể không. Có lẽ, sau khi biết con trai mình bị vỡ sọ, bố
tôi không còn là người mà vốn dĩ chúng tôi nghĩ là ông, và cũng không
phải cái người mà nhiều năm sau này chúng tôi coi là ông. Tôi luôn biết
rằng bố tôi yêu con cái, yêu mãnh liệt; tôi luôn tin rằng mối thù ghét các
bác sĩ ở ông còn mạnh mẽ hơn. Nhưng có thể không. Có lẽ, vào thời điểm
đó, thời điểm khủng hoảng thực sự, tình yêu của ông đã chiến thắng cả nỗi
sợ hãi lẫn mối thù ghét trong ông.
Có lẽ bi kịch thực sự là, bố tôi có thể sống trong tâm trí chúng tôi, trong
tâm trí các anh tôi và tôi, theo cách này, bởi phản ứng của ông vào những
thời điểm khác – hàng nghìn sự việc nhỏ nhặt hơn và các khủng hoảng ít
nghiêm trọng hơn – đã khiến chúng tôi thấy ông trong vai đó. Tin rằng nếu
chúng tôi ngã, bố sẽ không can thiệp. Thà chúng tôi chết.
Tất cả chúng ta đều phức tạp hơn những vai mà ta được phân cho trong
các câu chuyện. Không điều gì tiết lộ sự thật đối với tôi hơn việc viết tự
truyện này – cố gắng giữ những người tôi yêu mến trên trang sách, để nắm
bắt toàn bộ ý nghĩa về họ trong vài từ, việc mà tất nhiên là bất khả thi. Đây
là điều tốt nhất tôi có thể làm: kể câu chuyện khác song song với chuyện
tôi nhớ được. Về một ngày hè, một đám cháy, mùi thịt cháy, và một người
cha giúp con trai mình xuống núi.
Lời tựa
Tôi đang đứng trên nóc toa tàu hỏa bị vứt bỏ cạnh khu chuồng trại. Gió
thổi ào ào làm tóc tôi bay lòa xòa khắp mặt và đẩy cái lạnh xuống cổ áo sơ
mi không cài cúc của tôi. Càng tới gần núi, những cơn gió càng mạnh, như
thể chính đỉnh núi đang thở ra gió vậy. Ở phía dưới, thung lũng thanh bình
và yên ả. Trong khi đó trang trại của chúng tôi đang múa: những cây tùng
khế đung đưa, đám ngải đắng và những cây kế rung rinh, uốn cong trước
mỗi luồng gió thổi ào qua và trước mỗi lỗ hổng không khí. Phía sau tôi,
sườn đồi cao dần, cao dần rồi nối vào chân núi. Nếu tôi ngước lên, tôi có
thể nhìn thấy hình dáng của nàng công chúa da đỏ hiện ra đen sẫm.
Quả đồi được phủ một thảm lúa mỳ mọc hoang. Nếu như đám tùng và
ngải đắng là những nghệ sĩ độc diễn thì cánh đồng lúa mỳ là một vũ đoàn
ba-lê, mỗi thân lúa đều hòa theo những thân lúa khác trong chuyển động vỡ
òa, cả triệu vũ công ba-lê uốn mình, hết lượt này sang lượt khác, khi gió
đập mạnh những cái đầu màu vàng sẫm của chúng xuống. Cảnh đó chỉ diễn
ra trong thoáng chốc, gần như khi ai đó bắt đầu nhìn thấy gió.
Quay đầu về phía nhà chúng tôi trên sườn đồi, tôi nhìn thấy những
chuyển động khác, những cái bóng cao cứng nhắc di chuyển qua những
luồng gió. Các anh trai tôi đã thức dậy, đang ra ngoài xem thời tiết như thế
nào. Tôi hình dung mẹ tôi đang ở bên lò nướng, canh mẻ bánh kếp. Tôi
hình dung ra bố tôi cúi lom khom gần cửa sau, buộc dây đôi giày mũi thép
của ông và xỏ đôi tay đầy vết chai vào đôi găng tay của thợ hàn. Trên
đường cao tốc ở phía dưới, chiếc xe buýt của trường học chạy qua mà
không hề dừng lại.
Tôi mới bảy tuổi, nhưng tôi đã hiểu một điều, hơn bất cứ điều gì khác,
điều này khiến gia đình tôi trở nên khác biệt: Chúng tôi không đến trường.
Bố lo rằng Chính phủ sẽ buộc anh chị em tôi phải đến trường, nhưng
không thể, bởi vì Chính phủ không biết về sự tồn tại của chúng tôi. Bốn
trong số bảy đứa con của bố mẹ tôi không có giấy khai sinh. Chúng tôi
không có sổ khám chữa bệnh bởi vì chúng tôi được sinh tại nhà và chưa
bao giờ đi khám bác sĩ hoặc y tá⦾
. Chúng tôi không có hồ sơ ở trường học
bởi vì chúng tôi chưa bao giờ đặt chân đến lớp học. Khi tôi chín tuổi, tôi sẽ
thuộc diện làm giấy khai sinh muộn, nhưng bây giờ, theo bang Idaho và
Chính phủ Liên bang, tôi không tồn tại.
Dĩ nhiên tôi có tồn tại. Tôi lớn lên chuẩn bị cho Ngày Tận Thế, chờ mặt
trời tối sầm lại, chờ mặt trăng nhỏ giọt như nhỏ máu. Mùa hè nào cũng như
mùa hè nào, tôi dồn những quả đào vào các bình chứa, còn mùa đông tôi
quay vòng đồ dự trữ. Khi thế giới của con người sụp đổ, gia đình tôi sẽ vẫn
tiếp tục tồn tại, chẳng bị ảnh hưởng gì.
Tôi được giáo dục theo nhịp của núi, những nhịp điệu chẳng mấy khi
thay đổi mà chỉ mang tính tuần hoàn. Sáng nào cũng như sáng nào, vầng
mặt trời ấy xuất hiện, quét qua thung lũng, và trôi xuống phía sau đỉnh núi.
Tuyết rơi vào mùa đông, luôn tan vào mùa xuân. Cuộc sống của chúng tôi
là một vòng tuần hoàn – của ngày, của mùa – những vòng tuần hoàn của sự
thay đổi không ngừng mà khi hoàn tất lại có nghĩa rằng chẳng có gì thay
đổi hết. Tôi tin gia đình mình là một phần của khuôn mẫu vĩnh cửu này,
rằng theo một nghĩa nào đó, chúng tôi bất diệt. Nhưng sự bất diệt chỉ thuộc
về ngọn núi kia mà thôi.
Có một câu chuyện mà bố tôi thường kể về đỉnh núi ấy. Nàng là điều gì
đó thật cổ xưa, uy nghi, là thánh đường của một dãy núi. Dãy núi đó có
những ngọn núi khác, cao hơn, uy nghi hơn, nhưng đỉnh Buck được tạo
hình đẹp nhất. Chân núi trải ra cả dặm, hình hài sẫm đen của nó phình ra từ
mặt đất và vươn lên thành một chóp nhọn hoàn mỹ. Từ xa bạn có thể nhìn
thấy vẻ đẹp ấn tượng của thân hình một người đàn bà trên rặng núi: đôi
chân nàng hình thành từ những hẻm núi khổng lồ, tóc nàng là những nhành
thông xòa trên đỉnh núi phía Bắc. Dáng đứng của nàng oai nghiêm, một
chân duỗi về phía trước trong một động tác đầy uy lực, giống đang sải
bước hơn là bước đi bình thường.
Bố tôi gọi đó là Nàng Công Chúa Da Đỏ. Hằng năm nàng xuất hiện khi
tuyết bắt đầu tan, mặt hướng về phía Nam, nhìn lũ trâu trở về thung lũng.
Bố nói những người da đỏ sống du mục chờ sự xuất hiện của nàng như
chờ một dấu hiệu báo xuân cho biết tuyết trên núi đang tan, mùa đông đã
trôi qua, và đã đến lúc trở về nhà.
Tất cả những câu chuyện của bố đều là về ngọn núi, thung lũng, về khu
đất lởm chởm của chúng tôi ở Idaho. Bố chưa bao giờ dạy tôi phải làm gì
nếu tôi xuống núi, nếu tôi vượt đại dương, đi xuyên lục địa và nhận ra
mình đang ở trên một vùng đất xa lạ, nơi tôi chẳng thể tìm nàng công chúa
da đỏ phía chân trời. Bố chưa bao giờ dạy tôi làm thế nào để biết đã đến
lúc phải về nhà.
Phần 1
Chương 1
Chọn Điều Lành
Ký ức dai dẳng nhất của tôi thực ra chẳng phải là ký ức. Nó là chuyện mà
tôi tưởng tượng ra, sau đó ghi nhớ như thể nó đã xảy ra thật. Ký ức đó
được hình thành khi tôi năm tuổi, ngay trước khi tôi bước sang tuổi lên sáu,
từ một câu chuyện mà bố đã kể tỉ mỉ đến nỗi tôi và các anh chị tôi mỗi
người đều tạo ra trong đầu một phiên bản như một bộ phim của riêng mình,
với súng đạn và tiếng la hét. Phiên bản của tôi có những con dế. Đó là âm
thanh tôi nghe thấy khi gia đình tôi túm tụm vào nhau ở trong bếp, tắt hết
đèn, ẩn trốn người của Liên bang đang bao vây nhà của chúng tôi. Một
người phụ nữ mò vào bếp lấy nước uống và cái bóng đen của người đó
được ánh trăng soi rõ. Một tiếng súng vọng tới nghe đét một cái như tiếng
quất roi và cô ta gục xuống. Trong ký ức của tôi luôn luôn là mẹ gục xuống
và mẹ bế một đứa bé trên tay.
Mẹ bế đứa bé nào kia chứ, thật vô lý – tôi là con út trong bảy đứa con
của mẹ – nhưng như tôi đã nói, chuyện này không có thật.
Một năm sau khi bố kể cho chúng tôi nghe chuyện đó, một buổi tối
chúng tôi ngồi quây quần nghe bố đọc sách của nhà tiên tri Isaiah, một lời
tiên tri về Chúa Cứu Thế. Bố ngồi trên ghế sofa màu mù tạt, cuốn Kinh
Thánh to tướng để mở trong lòng. Mẹ ngồi bên cạnh bố. Anh chị em chúng
tôi ngồi ngả ngốn trên tấm thảm nâu sờn cũ.
“Người sẽ ăn bơ và mật ong,” bố đọc bằng giọng đều đều, chậm rề, mệt
mỏi sau một ngày dài vận chuyển phế liệu. “Và người có thể biết khước từ
cái xấu, chọn điều lành”.
Tiếp theo là một khoảng tạm ngừng nặng nề. Chúng tôi ngồi im lặng.
Bố không phải là một người đàn ông cao lớn nhưng có thể chỉ huy cả
phòng. Bố có cái vẻ uy nghiêm của một nhà tiên tri. Đôi tay bố to bản với
lớp da dày – đôi bàn tay của một người đàn ông đã lao động cật lực cả đời
– và đôi tay ấy cầm chắc cuốn Kinh Thánh.
Bố đọc rõ to đoạn đó lần thứ hai, rồi lần thứ ba, lần thứ tư. Cứ mỗi lần
đọc lại, giọng bố lại cao hơn. Đôi mắt của bố, mới mấy phút trước sụp
xuống vì mệt mỏi giờ đây đã mở to, đầy tỉnh táo. Bố nói, có một giáo lý
thiêng liêng ở đây. Bố sẽ cầu vấn Chúa.
Sáng hôm sau bố dọn sạch sữa, sữa chua và pho mát trong tủ lạnh nhà
chúng tôi đi, và tối hôm đó khi bố về nhà, chiếc xe tải nhỏ của bố chở tới
năm mươi can mật ong.
“Sách Isaiah không nói thứ nào xấu, bơ hay mật ong,” bố vừa nói vừa
cười xếch đến mang tai trong khi các anh tôi kéo lê những can mật ong vào
hầm chứa thực phẩm. “Nhưng nếu các con hỏi thì Chúa sẽ nói cho các con
biết!”
Khi bố đọc đoạn đó cho bà nội tôi nghe, bà cười vào mặt bố. “Mẹ có vài
xu trong ví đấy,” bà nói. “Anh nên lấy chúng đi. Chúng sẽ là toàn bộ sự
minh mẫn mà anh có.
Bà tôi có khuôn mặt mỏng, trơ xương và một kho bất tận những đồ giả
nữ trang của người da đỏ, tất cả đều bằng bạc và mai rùa, được đeo thành
chùm, thành búi trên cái cổ gầy nhằng và những ngón tay mảnh khảnh của
bà. Bởi vì bà sống ở dưới chân đồi, gần đường cao tốc, chúng tôi gọi bà là
bà-ở-chân-đồi. Đây là cách gọi để phân biệt bà với bà ngoại của chúng tôi,
người mà chúng tôi gọi là bà-trong-thị-trấn bởi vì bà sống cách chỗ chúng
tôi mười lăm dặm về phía nam, trong cái thị trấn duy nhất của hạt, nơi có
mỗi một trạm đèn giao thông và một cửa hàng tạp hóa.
Bố tôi và bà nội gắn bó như hai con mèo bị buộc đuôi vào nhau. Họ có
thể nói chuyện với nhau cả tuần mà không đồng quan điểm về bất cứ điều
gì, nhưng họ vẫn được ràng buộc bởi cả hai đều sùng kính ngọn núi. Gia
đình của bố đã sống dưới đỉnh núi Buck nửa thế kỷ. Những người con gái
của bà tôi đã lấy chồng và chuyển đi nơi khác, nhưng bố tôi ở lại, dựng
một ngôi nhà màu vàng đơn sơ, ngôi nhà mà bố chưa bao giờ hoàn thiện
xong, ngay trên sườn đồi, trong khi nhà mẹ đẻ của bố ở chân đồi, và ném
cả một đống đồng nát – một trong vài đống – ngay cạnh bãi cỏ được xén
tỉa cẩn thận của bà.
Họ bất đồng với nhau hằng ngày về bãi đồng nát lộn xộn ấy nhưng bất
đồng với nhau thường xuyên hơn về lũ trẻ chúng tôi. Bà nghĩ chúng tôi
nên đi học, như bà nói, và không “lang thang trên núi như những kẻ ăn lông
ở lỗ”. Bố nói, trường công là một thủ đoạn của Chính phủ nhằm khiến bọn
trẻ xa rời Chúa. “Nếu con cho các con mình đi học ở cái trường dưới
đường cái kia thì có khác nào con giao chúng cho quỷ dữ,” bố nói.
Chúa bảo bố chia sẻ khải thị đó với những người sống và canh tác dưới
cái bóng của đỉnh núi Buck. Vào các ngày Chủ nhật, gần như tất cả mọi
người đều tập trung tại nhà thờ, một nhà thờ được sơn màu hồ đào, nằm
tách khỏi đường cao tốc, với cái tháp chuông nhỏ, giản dị thường thấy ở
các nhà thờ Mặc Môn. Bố buộc các ông bố khác phải nghe mình nói, khi
họ rời những băng ghế của nhà thờ. Bố bắt đầu với người em họ của mình,
chú Jim, người đã từ tốn lắng nghe trong khi bố ve vẩy cuốn Kinh Thánh
và giải thích về tội lỗi của sữa. Chú Jim cười xếch đến mang tai, rồi vỗ vai
bố tôi, nói rằng không vị Chúa công bằng nào lại tước đi của một con
người cái thú thưởng thức kem dâu tây nhà làm vào một trưa hè nóng nực.
Vợ của chú Jim giật tay áo chú. Khi chú đi qua chỗ chúng tôi, tôi thoáng
ngửi thấy mùi phân bón. Rồi tôi sực nhớ: trang trại bò sữa lớn cách núi
Buck một dặm là của chú Jim.
Sau khi bố bắt đầu bài thuyết giảng bài trừ sữa, bà nhét sữa đầy ặc tủ lạnh
của bà. Ông bà chỉ uống sữa tách béo, nhưng chẳng bao lâu sau khi tất cả
những thứ ấy được chất ở đó – ông bà dùng cả sữa chứa hai phần trăm
chất béo, sữa nguyên kem, thậm chí sô-cô-la. Dường như bà tin đây là một
phương pháp ăn uống quan trọng để duy trì.
Bữa sáng trở thành một cuộc thử thách lòng trung thành. Mỗi sáng gia
đình tôi ngồi quanh cái bàn rộng bằng gỗ sồi đỏ được gia công lại và ăn
ngũ cốc bảy loại hạt cùng mật ong và mật đường, hoặc bánh kếp làm từ
bảy loại ngũ cốc, cũng với mật ong và mật đường. Bởi vì có tận chín người
chúng tôi nên những chiếc bánh kếp chẳng bao giờ được nướng kỹ. Tôi
không phiền vì ăn món ngũ cốc nếu tôi có thể trộn nó vào sữa, để kem
quyện bột ngũ cốc lại và tạo thành những viên ngũ cốc, nhưng từ khi có
khải thị kia chúng tôi ăn ngũ cốc với nước lọc. Ăn như thế chẳng khác gì
ăn một tô bùn.
Chẳng bao lâu sau, tôi bắt đầu nghĩ đến tất cả những loại sữa đang thiu
ra trong tủ lạnh của bà nội. Sau đó tôi hình thành thói quen bỏ bữa sáng
hằng ngày và đi thẳng tới chuồng nuôi gia súc. Tôi đổ nước gạo cho lợn
ăn, đổ đầy thức ăn vào máng cho bò và ngựa, sau đó tôi nhảy qua hàng rào
của bãi quây gia súc, đi vòng ra phía sau và lẻn vào cửa ngách nhà bà tôi.
Vào một buổi sáng như thế, khi tôi đang ngồi tại bàn quầy nhìn bà tôi
đổ bánh bột ngô ra bát tô, bà hỏi, “Cháu có thích đến trường lắm không?”
“Cháu không thích đâu ạ,” tôi nói.
“Làm sao cháu biết được chứ,” bà quát. “Cháu đã bao giờ thử đâu mà
biết.”
Bà rót sữa vào tô bánh bột ngô và đưa nó cho tôi, sau đó bà ngồi trên
chiếc ghế đẩu, đối diện với tôi ở phía bên kia bàn quầy, và nhìn tôi xúc
những thìa đầy thức ăn vào miệng.
“Ngày mai ông bà sẽ lên đường đi Arizona,” bà nói với tôi, nhưng tôi đã
biết điều đó rồi. Ông bà luôn đi Arizona khi thời tiết bắt đầu thay đổi. Ông
nói ông quá già để chịu đựng mùa đông Idaho; cái lạnh khiến ông buốt
thấu xương. “Mai cháu hãy dậy thật sớm,” bà nói, “khoảng năm giờ, ông
bà sẽ đưa cháu đi cùng. Bọn ta sẽ cho cháu đến trường.”
Tôi cựa quậy trên ghế. Tôi cố mường tượng ra trường học nhưng không
thể. Thay vào đó tôi hình dung ra lớp học giáo lý ngày Chủ nhật mà tuần
nào tôi cũng tham gia và tôi ghét. Một thằng con trai tên là Aaron đã nói
với tất cả những đứa con gái trong lớp giáo lý rằng tôi không biết đọc bởi
vì tôi không đến trường, và bây giờ không đứa nào thèm nói chuyện với
tôi.
“Bố nói cháu có thể đi ư?” Tôi nói.
“Không,” bà nói. “Nhưng khi bố cháu hiểu ra rằng cháu đã biến mất, thì
chúng ta đã đi từ lâu rồi.” Bà đặt cái bát của tôi vào bồn rửa và nhìn ra
ngoài cửa sổ.
Bà là người có tính cách mạnh mẽ – không chịu ngồi yên, hiếu chiến, tự
tin. Nhìn bà là để lùi một bước. Bà nhuộm tóc đen và điều này tôn thêm
những nét vốn đã dữ dội của bà, nhất là hai hàng lông mày mà sáng nào bà
cũng vẽ thành hai đường vòng cung đậm, đen như mực. Bà kẻ lông mày
quá rộng và điều này khiến khuôn mặt bà bị kéo giãn ra. Chúng cũng được
vẽ quá cao khiến những đường nét khác trên khuôn mặt bà mang một vẻ
buồn tẻ, gần như mỉa mai.
“Cháu nên đến trường,” bà nói.
“Bố sẽ không bắt bà phải đưa cháu về chứ ạ?” Tôi hỏi.
“Bố cháu không thể khiến bà làm bất cứ điều chết tiệt nào hết.” Bà
đứng dậy, đứng với tư thế vững chãi. “Nếu bố cháu muốn có cháu, thì bố
phải đến đón cháu.” Bà ngập ngừng, và trong chốc lát trông bà có vẻ xấu
hổ. “Hôm qua ta đã nói chuyện với bố cháu rồi. Trong một thời gian dài bố
cháu sẽ không thể đến đưa cháu về được. Bố cháu đang bận với cái lán mà
bố cháu xây dựng trong thị trấn. Bố cháu không thể dừng việc đó lại và lái
xe tới Arizona, không thể trong khi thời tiết ổn định và bố cháu cùng mấy
đứa con trai có thể làm việc suốt những ngày dài.”
Kế hoạch của bà đã được tính toán cẩn thận. Bố tôi luôn làm việc từ lúc
mặt trời mọc tới lúc mặt trời lặn trong những tuần trước khi xuất hiện đợt
tuyết rơi đầu tiên, cố dự trữ đủ tiền từ việc gom phế liệu và xây dựng
chuồng trại để chúng tôi có thể tồn tại qua mùa đông, khi mà việc làm trở
nên khan hiếm. Dù bà tôi bỏ trốn cùng với đứa con út của bố, thì bố cũng
sẽ chẳng thể ngừng làm việc được, cho tới khi cái xe nâng của bố bị bọc
trong băng tuyết.
“Cháu cần phải cho các con vật ăn trước khi chúng ta đi,” tôi nói. “Chắc
chắn bố sẽ biết cháu đi nếu lũ bò phá hàng rào đi tìm nước uống.”
Đêm đó tôi không ngủ. Tôi ngồi trên sàn bếp nhìn thời gian trôi, qua chiếc
đồng hồ treo tường. Một giờ sáng. Hai giờ. Ba giờ.
Bốn giờ tôi đứng dậy, đặt đôi giày ống của mình ở cạnh cửa sau. Phân
đóng bánh lại quanh giày, và tôi chắc chắn bà sẽ không cho tôi tha đôi giày
ấy lên xe hơi của bà. Tôi hình dung ra đôi giày bị bỏ lại trên hiên nhà bà,
trong khi tôi chân trần bỏ trốn đến Arizona.
Tôi mường tượng những gì sẽ xảy ra khi gia đình phát hiện ra tôi đã
biến mất. Anh Richard và tôi thường ở cả ngày trên núi, vậy nên có thể
không ai phát hiện ra chuyện đó cho tới khi mặt trời lặn, khi Richard về
nhà ăn tối mà tôi thì không. Tôi hình dung ra các anh tôi chạy túa ra khỏi
cửa để tìm tôi. Các anh ấy sẽ thử tìm ở bãi phế liệu trước tiên, nhấc các
tấm thép lên phòng khi các tấm thép nằm ngốn ngang đã xê dịch và khiến
tôi mắc kẹt trong đống phế liệu. Sau đó họ sẽ chạy ra ngoài, tìm khắp trang
trại, trèo lên cây và leo lên tầng áp mái của khu chuồng trại. Cuối cùng, họ
sẽ quay lên núi.
Lúc ấy trời đã sẩm tối – khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi đêm
xuống, khi quang cảnh chỉ hiện ra lờ mờ, và bạn cảm nhận thế giới xung
quanh mình rõ hơn là nhìn thấy. Tôi mường tượng ra các anh mình tỏa ra
trên núi, tìm kiếm trong những khu rừng tối đen. Không ai nói; ý nghĩ của
tất cả các anh ấy đều giống nhau. Ở trên núi mọi chuyện có thể diễn biến
xấu một cách đáng sợ. Những vách đá hiện ra bất thình lình. Những con
ngựa hung dữ của ông tôi chạy lung tung trên những đám cây cần nước độc
rậm rạp, và có nhiều rắn chuông. Trước đây chúng tôi đã từng tìm kiếm
một con bê biến mất khỏi khu nuôi gia súc. Trong thung lũng, bạn sẽ tìm
thấy một con vật bị thương; trên núi, bạn sẽ tìm thấy một con vật đã chết.
Tôi hình dung ra mẹ tôi đứng ở cửa sau, ánh mắt quét qua đỉnh núi đen
sẫm, khi bố tôi về nhà nói với mẹ rằng bố và các anh không tìm thấy tôi.
Chị Audrey của tôi sẽ gợi ý rằng ai đó nên sang hỏi bà nội tôi, và mẹ tôi
sẽ nói rằng bà đã lên đường đi Arizona từ sáng. Những lời đó sẽ bị bỏ lửng
một lát, sau đó tất cả mọi người đều biết tôi đã đi đâu. Tôi hình dung ra
khuôn mặt của bố, đôi mắt đen nheo lại, cái miệng mím chặt vẻ khó chịu
khi bố quay sang mẹ. “Em nghĩ nó chọn bỏ đi ư?”
Giọng bố vọng lại nghe chậm và buồn. Sau đó nó bị những âm thanh
khác từ một ký ức khác được gợi lên – tiếng đế, rồi đến tiếng súng, sau đó
là sự im lặng.
Sau này tôi biết rằng đó là một vụ việc mà ai cũng biết – như vụ thảm sát
Wounded Knee⦾
hoặc vụ Waco⦾
– nhưng khi bố tôi kể cho chúng tôi nghe
chuyện đó lần đầu tôi cảm thấy như thể ngoài chúng tôi ra không ai trên
thế giới biết về nó.
Sự việc bắt đầu vào gần cuối mùa đóng hộp rau quả, mùa mà tất cả
những đứa trẻ khác có lẽ gọi là “mùa hè”. Gia đình tôi luôn dành những
tháng ấm áp đóng các loại trái cây dự trữ vào bình, thứ mà bố tôi nói rằng
chúng tôi cần cho Ngày Tận Thế. Một tối, bố từ bãi phế liệu trở về với
tâm trạng bứt rứt. Bố đi đi lại lại trong phòng bếp suốt bữa ăn tối, hầu như
không ăn miếng nào. Chúng tôi phải thu xếp xong mọi việc. Chỉ còn rất ít
thời gian thôi.
Cả ngày hôm sau chúng tôi luộc và gọt vỏ đào. Đến lúc mặt trời lặn
chúng tôi đã dồn trái cây vào đầy hàng tá bình chứa Mason, những chiếc
bình được xếp theo hàng thẳng tắp, vẫn còn ấm vì trái cây được luộc từ
nồi áp suất. Bố kiểm tra việc của chúng tôi, đếm các bình trái cây và lẩm
bẩm một mình, sau đó quay sang mẹ và nói, “Đủ rồi.”
Tối hôm đó bố tổ chức một cuộc họp gia đình, và chúng tôi tập trung
quanh bàn ăn, bởi vì nó rộng và dài, đủ chỗ ngồi cho tất cả chúng tôi. Bố
nói chúng tôi có quyền được biết mình sắp chiến đấu chống lại điều gì. Bố
đứng ở đầu bàn; bọn tôi ngồi vắt vẻo trên ghế, nhìn đăm đăm những tấm
gỗ sồi đỏ dày cộp.
“Có một gia đình ở cách đây không xa,” bố nói. “Họ là những chiến
binh tự đo. Họ sẽ không để Chính phủ tẩy não các con họ tại các trường
công, vậy nên người của Liên bang theo dõi họ.” Bố thở những hơi dài và
chậm. “Người của Liên bang đã bao vây lều của họ, giam lỏng họ ở đó
trong nhiều tuần, và khi một đứa con của họ đói, một thằng bé, lẻn ra ngoài
để kiếm cái ăn, người của Liên bang đã bắn chết nó.”
Tôi nhìn khắp lượt các anh mình. Trước đó tôi chưa từng thấy nỗi sợ
hãi trên khuôn mặt của Luke.
“Họ vẫn ở trong lều,” bố nói. “Họ tắt đèn và bò trên sàn, tránh xa các
cửa ra vào và cửa sổ. Bố không biết họ có bao nhiêu thức ăn. Có lẽ họ sẽ
chết đói trước khi người của Liên bang bỏ cuộc.”
Không một ai thốt lên lời. Cuối cùng Luke, mười hai tuổi, hỏi liệu
chúng tôi có thể giúp gì được không. “Không,” bố nói. “Không ai có thể.
Họ bị kẹt trong chính ngôi nhà của họ. Nhưng họ có súng, con có thể đoán
chắc tại sao người của Liên bang lại không xông vào tấn công. Bố ngừng
nói để ngồi xuống, ngồi gò người trên chiếc ghế bằng động tác chậm chạp
và cứng nhắc. Trong mắt tôi trông bố già khọm và mệt mỏi. “Chúng ta
không thể giúp họ, nhưng chúng ta có thể giúp chính mình. Khi người của
Liên bang tới núi Buck, chúng ta sẽ chuẩn bị sẵn sàng.”
Đêm đó bố lôi một đống ba lô quân đội cũ từ dưới tầng hầm lên. Bố nói
đó là những chiếc ba lô để “thoát hiểm”. Cả đêm đó chúng tôi nhét đồ dùng
thiết yếu vào những chiếc ba lô đó – các loại thảo dược, máy lọc nước, bật
lửa. Bố đã mua sẵn mấy thùng lương khô của quân đội – và chúng tôi nhét
lương khô nhiều hết mức có thể vào những chiếc ba lô, mường tượng ra
lúc chúng tôi đã chạy trốn khỏi nhà và ẩn nấp trong đám cây mận dại gần
con lạch, chúng tôi sẽ ăn lương khô. Mấy anh trai tôi xếp gọn những khẩu
súng vào ba lô của mình nhưng tôi chỉ có một con dao nhỏ, và khi chúng tôi
sắp xếp xong, cái ba lô của tôi to bằng người tôi. Tôi nhờ Luke nhấc nó lên
một ngăn tủ đựng quần áo của mình, nhưng bố bảo tôi để nó ở chỗ thấp để
tôi có thể lấy thật nhanh, vậy nên tôi ngủ với cái ba lô đó ở trên giường của
mình.
Tôi tập đeo ba lô trên lưng và đeo ba lô chạy – tôi không muốn bị bỏ lại
phía sau. Tôi tưởng tượng ra cuộc trốn chạy của gia đình mình, một cuộc
trốn chạy vào ban đêm đến lãnh địa an toàn của nàng công chúa da đỏ. Tôi
hiểu rằng ngọn núi là đồng minh của chúng tôi. Đối với những người quen
biết, ngọn núi đó có thể rất tốt, nhưng đối với những kẻ xâm nhập, núi là
sự phản bội thẳng thừng, và điều này mang lại lợi thế cho chúng tôi.
Nhưng mà, nếu chúng tôi ẩn nấp trên núi khi người của Liên bang tới, thì
tại sao chúng tôi lại đóng tất cả những quả đào này vào bình. Chúng tôi
không thể tha cả nghìn cái bình Mason nặng trịch này lên núi. Hoặc nếu
chúng tôi cần những trái đào ấy đến vậy thì chúng tôi có thể đào boong-ke
ở trong nhà như gia đình Weaver và chiến đấu đến cùng chăng?
Chiến đấu đến cùng dường như là điều có thể xảy ra, nhất là khi, vài
ngày sau bố tôi về nhà với hơn một tá súng trường quân đội, hầu hết là
loại SKS, với những cái lưỡi lê màu bạc mỏng quẹt được gấp gọn dưới
nòng súng. Những khẩu súng ấy được để trong những cái hộp thiếc hẹp và
được xếp trong một lớp Cosmoline, một chất màu nâu như mỡ lợn cần
phải được lột ra. Sau khi chúng đã được lau sạch, anh Tyler chọn một khẩu
và đặt nó lên một tấm nhựa màu đen rồi gói lại, dùng hàng thước băng
dính màu trắng bạc bó lại. Vác cái gói ấy trên vai, anh mang nó xuống đồi
và thả nó xuống cạnh cái toa tàu hỏa màu đỏ. Sau đó anh bắt đầu đào. Khi
cái hố đã rộng và sâu, anh thả khẩu súng xuống đó, và tôi nhìn anh lấp đất
lên, cơ bắp của anh căng lên vì ráng sức, cằm anh bạnh ra. Chẳng bao lâu
sau, bố mua một cái máy để chế tạo những viên đạn từ những vỏ đạn đã
qua sử dụng. Bố nói bây giờ chúng tôi có thể trụ lâu hơn trong thế giằng
co. Tôi nghĩ đến cái ba lô để "thoát hiểm" của mình và khẩu súng trường
được giấu gần toa tàu hỏa, và bắt đầu lo lắng về cái máy chế tạo đạn. Nó
kềnh càng và được đóng chốt vào một cái máy trạm sắt ở trong tầng hầm.
Nếu bị tấn công bất ngờ thì tôi tính chúng tôi sẽ chẳng có thời gian để
xuống lấy nó mang đi. Tôi tự hỏi liệu chúng tôi có nên chôn nó cùng với
khẩu súng trường không.
Chúng tôi tiếp tục dồn những quả đào vào bình. Tôi không nhớ đã bao
nhiêu ngày trôi qua hoặc chúng tôi đã bổ sung bao nhiêu bình trái cây vào
kho dự trữ trước khi bố kể cho chúng tôi nghe thêm về chuyện đó.
"Randy Weaver đã bị bắn," bố nói, giọng yếu ớt, lập bập. "Ông ta rời
lều để đi mang xác con trai về, và người của Liên bang đã bắn ông ta."
Trước đó tôi chưa từng thấy bố khóc, nhưng bây giờ những giọt nước mắt
rơi thành một dòng chảy xuống từ mũi bố. Bố không lau nước mắt, cứ để
mặc chúng rơi xuống áo sơ mi. "Vợ ông ta nghe thấy tiếng súng và chạy
tới cửa sổ, ôm đứa con nhỏ trong tay. Thế rồi tiếng súng thứ hai vang lên."
Mẹ tội đang ngồi khoanh tay, một bàn tay để trước ngực, tay kia bịt chặt
miệng. Tôi nhìn đăm đăm xuống mặt vải sơn lót sàn loang lổ trong khi bố
kể với chúng tôi đứa bé được nhấc khỏi tay mẹ nó, mặt dính máu của
người mẹ.
Trước đó, vốn đã mong chờ chuyện phiêu lưu ấy, tôi phần nào muốn
người của Liên bang tới. Giờ đây tôi cảm thấy thực sự sợ hãi. Tôi hình
dung ra các anh mình ẩn núp trong bóng tối, những bàn tay đẫm mồ hôi
trượt trên báng súng. Tôi hình dung ra mẹ, mệt lả và khát khô, lùi xa khỏi
cửa sổ. Tôi hình dung ra mình nằm sấp trên sàn nhà, bất động và im lặng
lắng nghe tiếng kêu ghê tai của lũ dế ngoài cánh đồng. Sau đó tôi nhìn thấy
mẹ đứng lên, đưa tay ra với vòi nước ở bếp. Một tia sáng trắng lóe lên,
tiếng súng nổ, và mẹ đổ gục xuống. Tôi lao tới để đỡ em bé.
Bố chưa bao giờ kể cho chúng tôi nghe phần kết của câu chuyện ấy,
Chúng tôi không có TV hay đài, vậy nên có lẽ chính bố cũng không biết
chuyện kết thúc ra sao. Điều cuối cùng tôi nhớ bố đã nói về chuyện đó là:
“Lần tới, đó có thể sẽ là chúng ta.”
Những lời ấy ám ảnh tôi suốt. Tôi nghe thấy tiếng vọng của chúng
trong tiếng dế kêu, trong tiếng mứt đào rơi xuống bình thủy tinh, trong
tiếng kim loại loảng xoảng khi một khẩu SKS được lau chùi. Tôi nghe thấy
chúng mỗi buổi sáng khi tôi đi qua cái toa tàu hỏa và dừng lại trước đám
cây tràng sao và cây kế bò mọc lên ở chỗ Tyler đã chôn khẩu súng. Khá lâu
sau khi bố đã quên sự mặc khải trong sách Isaiah, và mẹ đã lại nhét những
bình nhựa chứa loại sữa “2% chất béo dùng cho cả gia đình” vào tủ lạnh,
tôi vẫn còn nhớ đến nhà Weaver.
Đã gần năm giờ sáng.
Tôi quay về phòng mình, đầu tôi đầy nghẹt tiếng dế kêu và tiếng súng.
Trên chiếc giường ở bên dưới, Audrey đang ngáy theo nhịp chậm rãi, mãn
nguyện, gọi mời tôi cũng làm như vậy. Thay vì thế tôi trèo lên giường của
mình, ngồi khoanh chân, nhìn ra ngoài cửa sổ. Mốc năm giờ trôi qua. Rồi
sáu giờ. Lúc bảy giờ bà tôi xuất hiện và tôi nhìn bà đi đi lại lại trên hiên
nhà bà, quay nhìn lên phía nhà tôi trên đồi một lát. Sau đó ông bà bước lên
xe, và thẳng tiến ra đường cao tốc.
Khi xe của ông bà đi rồi, tôi ra khỏi giường ăn một tô ngũ cốc với nước
lọc. Ở bên ngoài tôi được con dê Kamikaze của Luke đón mừng, gặm áo tôi
khi tôi bước về phía khu nuôi gia súc. Tôi đi qua chiếc xe go-kart⦾
mà
Richard cải tiến từ một chiếc máy xén cỏ cũ. Tôi cho lợn ăn, đổ thức ăn
đầy máng và dắt những con ngựa của ông nội ra bãi cỏ mới. Sau khi làm
xong mấy việc đó, tôi trèo lên cái toa tàu hỏa và nhìn ra thung lũng. Thật dễ
để giả vờ rằng cái toa tàu đang chuyển động, chạy băng băng khỏi nơi này,
rằng bất cứ lúc n...
 





