NHẠC TẾT XUÂN 2026
GIỚI THIÊU SÁCH THÁNG 1: CHỦ ĐỀ MÙA XUÂN
Cát bụi chân ái

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:10' 11-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:10' 11-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
“CÁT BỤI CHÂN AI”
- TÔ HOÀI Được xuất bản theo hợp đồng trao quyền sử dụng tác phẩm
giữa tác giả và Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của
Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Chương 1
TÔI KÉM NGUYỄN TUÂN MƯỜI TUỔI. Trước kia, tôi
không quen Nguyễn Tuân.
Quãng đầu thập kỷ bốn mươi, báo Hà Nội Tân văn, báo Chủ
Nhật mới in của tôi mấy truyện ngắn: Nước lên, Mê gái (Con gà
ri), Bãi ô-tô, Một đêm sáng giăng suông. Hình như Nguyên Hồng
đã chỉ cho tôi biết Nguyễn Tuân đương lững thững bên kia hè
đường Bờ Hồ. Những tiểu thuyết Thiếu quê hương đương in từng
kỳ trên tuần báo Hà Nội Tân văn và những truyện ngắn của
Nguyễn Tuân đăng các báo Tiểu thuyết Thứ bảy, Tao đàn, Thời
vụ, Bạn đường cũng có phần hơi hướng dấu vết trong chữ nghĩa
bước đầu đời viết của tôi mà Vũ Ngọc Phan, ở sách Nhà Văn
Hiện Đại đã đe tôi nên dè chừng cái giọng khinh bạc học đòi ấy.
Đi bên này hồ Gươm thấy Nguyễn Tuân ngồi trong nhà hàng
Hoàng Gia, cái quán rượu kiểu Pháp che cánh sáo ra kín vỉa hè.
Nhà văn chơi chua khác đời. Khăn lướt vố, áo gấm trần, tay
chống dọc chiếc quạt thước thay ba toong, chân bít tất dận giày
mõm nhái Gia Định. Năm ấy, Nguyễn Tuân cũng chỉ khoảng trên
ba mươi đôi chút. Ngoài đường phố chẳng ai ăn mặc kiểu cách
khác thường thế, nếu không phải quan tri phủ, quan thương tá
ngồi xe nhà, áo sa phủ áo gấm, áo đoạn, vừa ý tứ vừa khoe chiếc
bài ngà dây kim tuyến thấp thoáng trong ngực áo. Quán Tavec
Royan này chỉ Tây lui tới. Bên trong, nhảy đầm, dàn nhạc. Nhạc
sĩ Nguyễn Xuân Khoát vươn cổ cò trên cái đại vĩ cầm cao ngang
mặt người chơi, những tiếng nảy ra rên gầm gừ.
Nhưng những con người dị dạng này cũng chẳng làm khác
mắt mấy cái thành phố không còn đìu hiu, vài năm nay đã nhốn
nháo bọn dựa thế Nhật, đầu trọc để trần, áo ka ki ống tay rộng
vàng nhạt đi ghệt da cao, lầm lì và nhâng nháo. Chẳng đoán
được, Nhật thật hay Nhật mỹ ký. Rồi thì tôi xem Nguyễn Tuân
đóng vai người đi săn ở kịch Ngã ba của Đoàn Phú Tứ. Tôi thấy
Nguyễn Tuân thoáng mấy giây một cái bóng người y tá khiêng
cáng trong phim Cánh đồng ma của Đàm Quang Thiện.
Cũng thấy chán. Nhưng đọc bút ký Một chuyến đi viết về
Hương Cảng thì bâng khuâng nhiều. Mấy lần ở cuộc họp tổ bí
mật, nghe Như Phong báo cáo thuyết phục Nguyễn Tuân vào Văn
Hóa Cứu Quốc, chưa có kết quả. Nguyễn Tuân bảo Như Phong:
Ở Hà Nội này, đứa nào Việt Minh, đứa nào tờ-rốt-kít, đứa nào
Đại Việt, Quốc dân đảng, đứa nào bố láo cách mệnh mồm khoác
lác, đứa nào ăn tiền mật thám, tớ biết cả. Nghe nói tợn tạo trắng
trợn, Như Phong mượn một quyển sách rồi ra về.
Những cái biết của tôi về Nguyễn Tuân hồi ấy chỉ mang máng
thế.
Đem cái duyên đẹp đẽ mọi bề quàng cho Nguyễn Tuân có thể
chưa kín nghĩa, mà cũng không hẳn đúng. Về văn và cả về đời.
Có người mê Nguyễn Tuân như điếu đổ, từng chữ. Có người chỉ
lướt một đoạn đã không chịu được cái giọng khụng khiệng,
khệnh khạng. Triết lý và câu văn Nguyễn Tuân không giống vị
hoài sơn trong thang thuốc bắc, ghẻ bổ một tý, lại vô thưởng vô
phạt. Cái chơi của Nguyễn Tuân cũng thế. Với người này, không
thể thiếu Nguyễn Tuân. Người kia thì không chịu đựng được. Ô
hay, người ta ra người ta thì người ta phải là người ta đã chứ.
Nhớ lại năm ấy, ở gian hàng quà chợ Đồng Xuân còn cái bà nạ
dòng khăn nhung áo cánh phin nõn đeo chuỗi hạt cẩm thạch phơn
phớt xanh - hàng bún thang ngon có tiếng. Chỉ một bát thang con
bún lá, giọt cà cuống thơm một cách khó chịu mà lại không có
không được, cũng có thể viết lên một cái gì. Nói bâng quơ, chẳng
ra nhủ mình, chẳng ra cho người khác. Những cái ấy phải viết,
viết. Như những đêm áp Tết, năm cùng tháng tận, lại lấy ra mấy
cái đĩa hãng Pa-thé mua được ở chợ Giời, mà nghe ả Đàm Mộng
Hoàn: Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán… Cánh chim bằng chín
vạn những chờ mong… Thế nào ông ấy cũng lại nói: Cái hơi của
Mộng Hoàn thì sang, nhưng không đẹp bằng giọng bà Chu. Phải
viết, cái này phải viết thôi. Những năm về sau, Nguyễn Tuân vẫn
làm việc cho viết, khắc khoải sự viết, mà không viết bao nhiêu. Ở
đây nữa, chính bởi hơi sức và trong tâm sự. Phải đến Nguyễn
Tuân viết ra thì cũng một vùng phố xá ấy mới thành tên gọi, mới
thành Phố Phái - hai chữ của Nguyễn Tuân sáng tạo đặt tên cho
tranh Bùi Xuân Phái. Và trong cuộc chơi, ông cửa hàng trưởng
Bôđêga, chú nhà bàn, nhà bếp khách sạn Thống Nhất hay bác
Chữ bán cháo gà gõ ống thổi làm phách hát ả đào giọng chèo ở
ngã sáu dốc Hàng Kèn, hay khi lên chơi nhà ông Ba trên Nghĩa
Đô thì dẫu cho Nguyễn Tuân chưa hề quen, cũng không phải là
trùm trò, các chủ quán, chủ nhà đều trân trọng như ông ấy mới là
chủ cuộc. Cái duyên ấy xưa nay vẫn như một.
Những năm trước 60, cái dốc ngã sáu Hàng Kèn ban đêm
thanh vắng lắm. Những cây sấu, cây sữa cũng chưa như mấy năm
sau phải một trận bom Mỹ đánh sập hai ngôi nhà và mấy gốc cổ
thụ. Bờ hè dưới hai hàng cây hiu hắt khơi lại cảnh xưa cũ, còn cái
bờ tường đắp dòng chữ xi măng nổi Phúc Đình cha, tên hiệu
thuốc sốt rét nổi tiếng một thời. Nhớ Cây Thị Hàng Kèn đầu Lê
Lợi, cuối Hàng Giò nhiều hơn tên phố mới, đối với chúng tôi.
Mấy hàng phở gánh và quán cóc. Nơi ăn đường ăn chợ này
không chè chén xô bồ như trên ngõ Sầm Công, chim quay Tiểu
Lạc Viên, cà phê phin Ca, cà phê đá Lý Hảo… cũng không ví
được với cơm tám Tân Việt, Việt Hương quanh chợ Hôm gần
đấy.
Dốc Cây Thị không còn cây thị, hàng quán chỉ rải rác có buổi.
Ngồi đây, đầu phố Hàm Long nhìn sang sở Văn Tự, tưởng như
lão Tàu Bay còn gánh phở bán buổi sớm. Cũng cạnh đấy, bên dãy
nhà mà thời tạm chiếm Pháp đặt đài phát thanh Con Nhạn của
quân viễn chinh, hồi Tiền Khởi Nghĩa, đội AS (ám sát) của Việt
Minh đã bắn chết Thiên Nga, nữ đặc vụ của Nhật trong quán cà
phê này. Nhưng không phải chỗ hàng cà phê của ông cắt tóc ở
hợp tác xã chỗ ngã sáu mới về mở, đêm B52 ấy, một vỏ tên lửa
rơi gãy võng cái mái hiên. Những biến thiên của con người phố
xá, chắp nối lại mà chỉ có ngòi bút Nguyễn Tuân mới phát hiện
cho người đọc thấy được những lăng cạnh gốc gác, như muôn vật
trong trời đất, khác nhau mà lại dính líu với nhau. Những ngã
năm, ngã tư, ngã bảy, người đi lại sinh ra đường cái và mọi sinh
hoạt, làm ăn, đắp đổi, người hút thuốc lào thì có người bán đóm,
phường chợ thì có người đóng đinh đế giày, ông bán hàng nước
chè tươi, ông lão chữa giày dép với khách dừng chân.
Phở Tàu Bay - mà bây giờ ở Sài Gòn có vài ba quán của các
bà phòng nhất, phòng nhì và con cháu ông Tàu Bay đã quá cố,
cũng đôi chút phảng phất mùi vị phở Bắc, gánh phở ông Tàu Bay
xưa đỗ cạnh dốc bên gốc cây thị đầu sân vào sở Văn Tự - không
biết tại sao người qua đường lại đặt tên công sở ấy là sở Văn Tự.
Có lẽ cũng như chỉ tình cờ một câu bông đùa cái mũ da lưỡi trai
hơi dài khác thường của ông hàng so sánh với chiếc mũ phi công
mà thành tên phở Tàu Bay, một hàng phở gánh buổi sáng. Thời
ấy, sáng, trưa, tối đều đặn cho người ăn quà phở mà không phải là
dùng phở đến no. Hiếm cửa hàng phở, hiệu phở, rặt phở gánh,
chuyên phở nước. Phở hiệu xào ròn, xào mềm, tái lăn, sốt vang,
bát phở bên đĩa mùi, húng và cút rượu trắng. Phở gánh, món quà
nhẹ. Ngủ trưa dậy, tối khuya trước khi đi ngủ. Không ai khai tâm
chén rượu lúc ăn phở bát. Thịt bò chín từng tảng, cũng chưa rạch
ròi mấy chỗ nạm, gầu, mỡ hay nhừ. Trong cái bát chiết yêu loe
miệng thắt đáy, nước dùng bốc khói mà trong như nước mưa li ti
nổi chút váng mỡ vàng, lơ thơ mấy lát hành hoa, rau mùi. Làm
bát nào, thịt thái bát ấy. Đảo phở, bánh trồi lên quá, bánh trương,
ăn phải bỏ dở. Nhưng đạo ăn phở của Nguyễn Tuân có cách
riêng.
Trong lòng vỉa hè ngã sáu quang đãng cứ khoảng mười giờ tối
trở đi mới lập lòe hàng quán. Những tối thứ bảy, từ đầu Hàng
Đào xuống Tràng Thi, đến tận chợ Đuổi, mọi ngã ba ngã bảy đều
kê bục, cắm cờ. Các đoàn văn công nhảy sạp ràm rạp. Tiếng Trần
Chất hát Chiếc khăn piêu đến đinh tai trong loa. Người xem chen
chúc lúc ấy mới vãn. Đội quân cảnh đeo băng đỏ đã bắt đầu đi
tuần đêm thiết quân luật. Các gánh lục tào xá cháo gà phải hai ba
giờ sáng mới hết hàng. Đã quảy về còn có người gọi theo. Bình
yên, chẳng ai nhớ thành phố hãy còn phải quản trị theo chế độ
quân sự. Dọn hàng quá khuya đã thành lệ.
Khi có hàng quà, những ngã ba đã văng vắng lại hiện ra bộ
mặt khác. Chốc chốc, thong thả qua một xe đạp lênh khênh, tiếng
vòng nan hoa quay gió vù vù. Cái xe trâu Trung Quốc nặng như
cùm được người ta vác từ chiến khu Thái Nguyên Việt Bắc về.
Gánh cháo gà bác Chữ đã dềnh hẳn xuống mặt đường nhựa.
Chiếc chậu nhôm đựng nước, cậu con trai thả chồng bát vào chậu
rồi nhặt ra từng cái, khăn lau miết quanh miệng chiếc bát rếch
của những khách ăn mở hàng. Rồi bác Chữ thừ ra. Như còn tiếc
đám múa sạp lúc nãy hay sao. Bác Chữ cầm chiếc ống nứa thổi
pho pho vào cửa lò mới được cời, mẩu củi hồng rực.
Rồi lại quay ra, ngồi lên bó củi, một tay đấm lưng, tay kia gõ
cái ống nứa giả vờ điểm tiếng róc phách, chốc lại tom chát đánh
nhịp xuống thành thùng bát, miệng ư ừ giọng mũi như rên:
Nam nhi đứng ở trong trời đất
Quyết ăn chơi cho đủ mùi đời
Sự cùng thông bĩ thái tự trời
Sông có khúc con người có lúc…
Bộ quần áo nâu dày mo nang dưới ánh ngọn điện chao lắc lư
trên dây giữa đường. Mặt nhăn nhó đăm đăm, chẳng biết đương
phởn hay buồn nỗi hóng khách. Chốc lại cầm ống nứa thổi bếp,
xong lại rền rĩ: Nam nhi đứng ở… Tôi không trông rõ thật mặt
cái bác cháo gà Chữ ấy ban ngày bao giờ. Như người với ma, nửa
đêm đến rạng sáng thì lặn. Bác Chữ nhìn hò háy trước ánh lửa,
mắt ấy không viền vải tây điều tất cũng lông quặm. Dần dần
người ngợm ở đâu cứ lẩn thẩn ra, như cỗ tam cúc phải đủ xe pháo
mã với năm quân tốt hỉn. Gánh lục tào xá lù lù đến ghé cạnh. Cái
ông chè đậu xanh lục tào xá thoạt hiện ra thật oai. Như đức Quan
Ngài hồi tiền nhật còn ở ẩn kết nghĩa với ông cháo gà Lưu Bị
dưới gốc dâu cây sữa xòe tán lá ba tầng ba lọng vàng điềm về sau
làm vua. Lão râu đen dài, trán nhẵn hói bóng lên nửa đầu, khi
chưa gặp thời thì quảy hàng mà thôi. Nhưng ngắm kỹ, chưa chắc
lão đã bằng tuổi tôi băm lăm lúc ấy. Có lẽ chỉ mới năm trước còn
thói quen nuôi râu giả già để trốn quân dịch, nhiều người mắt đảo
như chớp, nhưng râu ria lõng thõng.
Áp chân tường số nhà 81, ông hàng cà phê bít tất. Cũng là
trông hình thù mà tưởng ra, cà phê pha vào ấm nhôm, mảnh vải
lọc thõng xuống như chiếc bít tất nâu. Ngọn đèn hoa kỳ lom đom
giữa mặt chõng tre, ngổn ngang mấy cái ghế con đặt quanh.
Khách ngồi xuống, trông lên mới thấy mặt ông hàng lom khom,
bóng loáng nắng gió đồng chiêm. Bộ quần áo nâu non nhờ nhếch,
dáng ngơ ngơ như đương lẩm nhẩm ai trả tiền, ai lỉnh mất.
Nguyễn Tuân không thích cái cà phê hâm nóng đầu đường thế
này. Nhưng vẫn thường ghé xe đạp dựng lên gốc cây xà cừ.
Không biết có phải chỉ bởi thói quen xưa cũ cứ tối tối, tôi lại rước
tôi ra đường! Những đêm gió lùa rào rạt mặt nhựa, nhồi thêm
thuốc vào tẩu, ngồi tránh vào bên gốc xà cừ gồ ghề - Nguyễn
không chịu được mùi hoa sữa, ghét lây cả cái cây. Chén cà phê
sành nâu lồi lõm, có khi chỉ nhấp một ngụm, rồi bỏ lạnh ngắt.
Dường như ngại tôi có thể vì ông ấy mà áy náy không biết cà phê
hạt muồng hay ngô rang.
Nguyễn Tuân nói: Mặc kệ mình. Cậu cứ việc hồi tưởng. Ông
anh nghĩ tôi đương ngắm nghía một kỷ niệm đâu đó nên mới ưa
lai vãng tới đây, bởi biết tôi vốn cũng lạnh nhạt với cà phê. Vào
quãng giữa thế kỷ này thành phố và con người đều trải nhiều
quãng đời chằng mắt xích với nhau. Tôi cũng như vậy. Tôi đến
cái ngã năm, ngã sáu này không phải ngẫu nhiên. Mười năm
trước, ven hồ đằng kia, còn những tòa biệt thự mọc lên giữa
những bụi chuối um tùm. Mặt trận đã lan đến đấy, tan hoang cả.
Tôi làm phóng viên của báo Cứu Quốc thường qua lại đây, khi
xuống tuyến phòng thủ phía chợ Mơ. Có hôm ngủ đêm lại trong
ngôi nhà bỏ không. Ở chỗ chúng tôi đương ngồi, tiếng súng và
người núp ngã xuống bên mỗi gốc cây. Báo Thủ Đô đăng tin
chiến sĩ Nguyễn Thành ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch từ
hồ Thiền Cuông tới. Quả bom đầu tiên của quân giới ta tự tạo có
lẽ được tung ra ở chỗ kia đấy. Thành phố đương tổ chức tìm đào
hài cốt liệt sĩ và người chết đường. Ban ngày, trên vỉa hè đặt hàng
dãy những chiếc tiểu khói hương nghi ngút.
Ở cái ngã sáu đường đời ấy vẫn leo lét ngọn đèn con của lão
cà phê 81, ánh đèn chai và lửa bếp thùng cháo bác Chữ. Mấy cái
xích lô tã chốc lại lạch xạch lượn lờ qua. Trông mặt người đạp xe
cũng có thể đoán được tông tích, mỗi người đều hằn nét bộ mặt
thời gian và tờ lịch hàng ngày của thành phố. Có lão râu xồm
khuya về uống rượu húp cháo rồi nằm vắt người trên đệm xe, sàn
xe ngủ bên gốc cây. Đấy là các ông chánh, ông lý tề vừa chạy
Tây càn, vừa sợ Việt Minh trả thù đã bỏ các vùng trắng ven nội
vào đây. Đám cơ sở ta hốt chết trốn vào thành, trẻ hơn và đỡ lầm
lì, có thể lại công tác bí mật, không ác ôn như mấy lão xích lô râu
rậm kia. Nguyễn Tuân bảo: Cậu có để ý đường phố bên Bắc Kinh
lúc gần sáng, những xe la, xe lừa bánh gỗ cao lênh khênh, những
lão đánh xe đầu hói như quả dưa hấu ngồi ngất ngưởng trên đống
củ cải, vẫn oai phong chẳng khác Tưởng Giới Thạch, Uổng Tinh
Vệ thất thế!
Tôi bàn theo:
- Lão xế lô, lão lục tào xá này nhất định là tề ngụy cũ. Cả lão
cà phê bít tất, lão cháo gà dấm dớ thế nhưng trông tay thoăn thoắt
nhặt tiền, xếp tiền thế kia đủ biết.
Nguyễn Tuân hỏi:
- Có nhớ Két không?
- Tay Két trinh sát tiểu đoàn 54?
- Cứ ngồi đây mình lại nhớ nó. Không hiểu sao.
Khói thuốc trong nõ tẩu phầm phập bốc xanh trắng um lên.
Thì ra, ở cái đầu đường đêm hôm chẳng thú vị mấy chút,
chính Nguyễn Tuân mới đương hồi tưởng. Ở mỗi cái cùng trông
thấy, nhưng từng người lại ngờ khác nhau. Thế nào mà ở đây
Nguyễn Tuân lại nhớ tới Két chiến dịch sông Thao mùa hạ 1949.
Chập tối ấy, bộ đội qua sông xuống đò bến đền Đông Cuông gần
Mậu A, rồi hành quân suốt đêm vào hậu địch để kịp chiều hôm
sau đánh đồn Đại Bục. Tình cờ, chúng tôi gặp lại Két ở Mậu A,
Nguyễn Tuân quen Két của Trung đoàn Thủ đô. Chiến dịch ấy,
trung đội trưởng trinh sát Két đã hy sinh, nằm lại bờ bên kia sông
Thao.
Đi và đi thực và mộng cả đời Nguyễn Tuân. Làm thế nào đi
được, chỉ cốt đi được. Năm 1937, Nguyễn Tuân ra Hương Cảng
làm tài tử màn bạc. Phim truyện Việt Nam, chủ Trung Quốc thuê
một số người ở Hà Nội sang đóng. Tôi đã xem Cánh đồng ma ở
rạp Hiệp Thành phố Hàng Bạc - rạp chèo cải lương, thỉnh thoảng
chiếu phim phong thần, kiếm hiệp bán vé một hào đồng hạng.
Phim Cánh đồng ma đầu Ngô mình Sở. Nguyễn Tuân đóng một
vai phụ - có thể lôi người đi ngoài đường vào sắm vai cũng được,
đấy là người y tá mặc áo lui trắng, nâng đầu cáng thương, lừ lừ
qua ống kính chớp nhoáng một hai giây. Có thế thôi, mà Nguyễn
Tuân lặn lội sang Hương Cảng trong lúc năm hết Tết đến.
Cũng không phải chơi bời đua đả. Đám hổ lốn đóng phim còn
lục đục lừa nhau, chửi bới nhau vì các chủ phim tranh nhau xé
đám phu mộ đóng phim này đã làm thêm phim Trận phong ba tồi
quá gửi về nước tranh khách trước nhưng không có người xem.
Nguyễn Tuân ở trong đám phu đóng một phim. Cũng không ăn
cánh với ai. Bà phô tô Phú ho lao gày rạc dâm đãng đến quái dị,
trùm trò Đàm Quang Thiện và Nguyễn Doãn Vượng, điểm mặt
cũng không phải ai tri âm tri kỷ khiến Nguyễn Tuân phải đắm
đuối bỗng dưng lênh đênh đi. Mà cái thúc giục vẫn là những cơn
đói đi của mình. Không khó không dễ, không biết ai, chỉ biết một
mình. Nguyễn Tuân muốn đến Hương Cảng, nặng nề và nhẹ
nhàng, thế thôi. Trong đêm trừ tịch ở hòn đảo phồn hoa nhất châu
Á, hứng thú và buồn với hồn cốt những trang bút ký Một chuyến
đi, chỉ có tâm sự ấy đã giục giã nhiều.
Một đời ao ước phương trời với một cung cách đi. Trong tiểu
thuyết Thiếu quê hương, cả một chương mười mấy trang về vùng
than với những cảng Rơđông, cửa Điền Công, những cơn gió
ngoài vịnh vào đen nhuyễn màu than trùm lên phố biển Hòn Gai.
Hồi ấy, Mộng Tuyết - Đông Hồ trong Hà Tiên ra chơi Hà Nội.
Hôm về, Nguyễn Tuân tiễn ngoài ga Hàng Cỏ. Nguyễn Tuân có
viết về cuộc tiễn biệt ấy trên báo Bạn Đường ở Thanh Hóa, đã
cười tiên sinh Đông Hồ, tàu sắp chạy, mà vẫn cùng bạn bè lắc lư
ngâm vịnh thù tạc suông không có chén. Còn cô Mộng Tuyết thì
lại khéo tưởng tượng ra như trông thấy con người ấy hôm nào
mới ở vùng gió than, bão than còn cuốn theo đến tận sân ga. Trên
khuôn mặt cháy nắng của người lữ hành, hai lỗ mũi cũng xám
đen những than là than.
Cô con gái làm thơ ở Phương Thành nhìn Nguyễn mà cảm
động, bởi từ xưa kia cô đã ước mơ thèm một hơi gió lạ, khát thở
một bầu không khí trời, nước lênh đênh hàng tháng trên biển cả
để rồi đổ bộ trên một bến bờ xa. Trải qua khắp kinh tuyến, vĩ
tuyến của địa cầu, để đi tới chỗ bốn mùa tuyết rơi, băng đóng đến
vùng sa mạc gió nắng lửa than, trèo tuyết núi Hy Mã Lạp Sơn
lạnh cóng và tắm nước sông Hằng, vượt biển Đại Tây Dương,
qua Hy Lạp, rồi trên lưng lạc đà xem Kim Tự Tháp rồi trở lại
thưởng hoa anh đào trong một ngày hội ở Nhật Bản. Ngày hè thì
lưu liên các vùng bãi biển Ý Đại Lợi. Thu về thì ngồi xem lá
vàng rụng theo các pho tượng của Lúc-Xem-Bua. Bao nhiêu
tiếng gọi của Cao Rộng Xa Xăm đã thúc giục ám ảnh mãi lòng
thích sống một cuộc đời bấp bênh có nhiều xê dịch, biến đổi của
thiếu nữ. Cô thiếu nữ mà ngày còn thơ đã có ý muốn đi tận chân
trời. Thuyền khách sông Hương đêm thất tịch. Lạnh lùng trăng
nước khúc nam ai… mà ai cảm chung một mối tâm sự não ruột
của khách Giang Châu Tư Mã (Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
bút ký, Phương Thành một ngày thu muộn, 1939 của Mộng
Tuyết).
Cũng một nòi tình mơ màng như cô Mộng Tuyết, chỉ có rày
ước mai ao, thật ra Nguyễn Tuân chưa đi đường bộ quá Mông
Dương và đường nước chưa ra khỏi cửa Điền Công tới Móng Cái
bao giờ. Phải đến hơn hai mươi năm sau viết trang sách về vùng
than, Nguyễn Tuân mới tới Hải Ninh lần đầu, cùng đi với Nguyên
Hồng, Vạn Lịch và tôi. Tưởng như khó tin, mà sự thật như thế.
Thiên bút ký mênh mang sóng biển Cửa Đại kia, đọc kỹ thì nhận
ra phải nhờ tác giả có người nhà ở Cửa Đại, mới đến được. Ngày
ấy, Nguyễn Tuân đã viết một truyện ngắn đăng báo Tiểu thuyết
Thứ bảy, trên đề: Tặng ông Đỗ Ngọc Côn, nhà máy đèn Móng
Cái. Khi này, Phạm Duy làm thợ phụ nhà máy điện, ở nhờ ông
Đỗ Ngọc Côn (Phạm Duy: Hồi ký thời cách mạng, kháng chiến California, 1989). Mà ông bạn làm nhà máy đèn Móng Cái ở phố
chính Clamoocgăng ấy cũng chưa lần nào gửi tiền tàu xe rủ
Nguyễn Tuân ra chơi thưởng thức cái hiu hắt nơi địa đầu. Hàng
chữ đề tặng chỉ là một ao ước. Mà phải đến dịp nhờ xe của cán bộ
Vạn Lịch, mới ra được bãi Trà Cổ, xuống lái than ngược sông
Mang lên cầu Bắc Luân - Móng Cái, đến Thán Pún - sự bôn tẩu
của chúng tôi có công lệnh và dấu đóng giấy đi đường cẩn thận.
Cầu kỳ và khó tính cũng là tính riêng trong cái thích thú ham
đi mà không được đi. Ở phương Đông còn có cái chơi đi mà
không đi, ngồi nhà ngắm tranh sơn thủy, nuôi muông thú lạ, uốn
cây, gẩy cái lá trúc rụng xuống thế giới bể nước nho nhỏ rêu nổi
hòn đá cây si bên hòn non bộ có ngôi chùa mái cong, có chú tiều
vác củi qua cầu. Cho thỏa cái tưởng tượng mà thôi.
Nguyễn Tuân ở vế người thứ nhất, không phải các ông ngồi
rung đùi chơi trời đất thu nhỏ vào cái bể sành và núi non bộ. Mà
đôi khi chơi cây cảnh, một chút chắp nối. Ơ hờ, hờn dỗi, bực bội,
nhớ thương không đâu gửi vào một nhánh địa lan cánh tím, một
con chó đá canh cửa, một quả phật thủ, một hòn cuội suối, một
chiếc gối sứ mới đây được bưng ra từ một tiệm hút chợ Cũ Sài
Gòn. Nguyễn Tuân chỉ thích đi, nhưng trong mọi sửa soạn còn kỹ
lưỡng hơn đi. Mùa hạ năm 1949, Nguyễn Tuân và tôi theo tiểu
đoàn 54 Trung đoàn Thủ đô tiến quân vào mở chiến dịch tiêu diệt
một chuỗi cứ điểm hành lang bờ sông Thao án ngữ Tây Bắc, các
đồn Đại Bục, Đại Phác, Khe Pịa, Ngòi Mác, Mã Yên Sơn lên đến
đồn tiểu khu Phố Ràng. Chuyến ấy, tôi đi cùng Nguyễn Tuân được làm quen với Nguyễn chuyến đi đầu tiên. Tôi đã ghi lại:
Nguyễn Tuân xắm nắm quanh cái bi đông nước bọc dạ xanh
của anh. Lần đầu tiên ở mặt trận, đi lâu với Nguyễn, tôi mới thấy
quá nhiều đức tính của người lên đường. Khỏe, vững, hành trang
không thừa, cũng không thiếu một cái gì. Trên lưng, gọn gàng
chiếc ba lô Nhật. Một sợi dây nhỏ cũng có chỗ để rồi dùng đến
sợi dây. Cuối cùng, mọi thứ giấy má có thể lộ liễu của riêng mình
đều phải để lại căn cứ, không được đem theo vào vùng địch. Chỉ
một cuốn sổ nhỏ, cái áo mưa, bỏ vào ba lô vừa phải. Một bao
cơm nắm, thêm cái thắt lưng lương khô cuốn chéo ngang mình.
Đầy bi đông nước, Nguyễn Tuân đã cẩn thận buộc ghì vào thắt
lưng cho khi bước đỡ xóc (Ngược sông Thao, phóng sự, Nhà xuất
bản Cứu Quốc 1949).
Trong nghề đi - nghề, chứ sao, cẩn thận đã thành thói quen và
cầu kỳ đến đam mê. Sửa soạn cũng là khai thác để thưởng thức
được chu đáo. Không phải cứ đứng đắn và khôi hài như nhạc sĩ
Nguyễn Xuân Khoát. Ở trường lục quân bên Vân Nam về, anh
Khoát dạy tôi thuật đi đường giữ được dai sức của Bát lộ quân.
Nhanh mười bước lại thong thả ba bước, cứ thế cả ngày chân
không biết mỏi. Cẩn thận, mọi thứ trên mình và trong ba lô đều
gọi thành con số. Ví như cả thảy đồ đạc có mười lăm thứ. Sáng
ra, trước khi đi đếm chỉ có mười bốn. Thế là còn thiếu một. Rõ
thật buồn cười, nhưng nếu cười, anh Khoát không bằng lòng. Mọi
cẩn thận của Nguyễn Tuân thiết thực hơn, nhưng không thành
con số như trên. Ngòi bút chì gài trên túi áo, ngồi đọc cũng ghi
lên sách. Không biết đến thế kỷ nào có cái hơn, chứ bút chì trên
giấy thì không bao giờ phai. Một tiệp bìa cứng với cái bút chì.
Lắm lúc thấy ông bạn đường chịu khó đến vậy, mình vừa để ý,
vừa thích vừa ngán ngẩm cho những khó nhọc của nghề đi không
biết thế nào là cùng. Lo cho việc đi là yêu đi và biết hưởng thụ đi.
Mải mê quên ngày tháng, nhưng tính đếm sửa soạn cho mải mê
thì phải nhớ từng ly. Cái phóng khoáng của ông ấy không lẫn với
buông tuồng, cẩu thả.
Mà sự chuẩn bị tỉ mẩn của con người muốn khi ta chết đi, da
ta được thuộc làm cái va li cũng khá khác thường. Năm 1961,
Nguyễn Tuân lên Hà Giang dự khánh thành đường Bắc Quang Hoàng Su Phì. Hòa bình thảnh thơi rồi, nhưng vẫn lại là về rừng,
lại đeo cái ba lô Nhật với những sợi dây dù Mỹ buộc màn, không
quên chiếc bi đông chiến dịch sông Thao hơn mười năm trước.
Giữa đám các thứ lỉnh kỉnh, một xếp giấy bản lau chén bát, một
quyển sách đang đọc và mấy thẻ hương mua thửa ở hàng quen
cửa chợ Đồng Xuân. Khánh thành đường mới trên rừng thì nhà
khách cũng là mấy cái lán cắm ven đường. Hương chống ẩm,
chống muỗi đây. Hương chống muỗi, chứ Nguyễn Tuân kỵ mùi
tỏi và không chịu được mùi thơm ở các thứ hương Ấn Độ cứ
thoang thoảng rờn rợn như có ma lẩn quất trong nhà.
Quả nhiên là những nơi ngả lưng dã chiến ở Hoàng Su Phì
khách nghỉ đêm ở các lán dân công, nền đất và phên vách mới
được sửa sang lại đôi chút. Tối đến, mùi hương ở lán ông khách
văn ngào ngạt ra. Vù Mý Kẻ, bí thư huyện Đồng Văn hỏi nhỏ tôi:
- Nó cúng ma hả?
Làm thế nào cắt nghĩa cho ông bạn người Mông này hiểu cho
cái thú chơi sưởi mùi hương như thế. Mới như hôm qua, Vù Mý
Kẻ năm trước lần đầu về Hà Nội. Nhiêu khê quá, xe liên vận
Đồng Văn xuống Hà Giang, lại chuyển ô-tô khác về Phú Thọ. Ở
đấy, lên tàu hỏa. Đoàn tàu xuôi về đến ga Hàng Cỏ, vẫn ngồi thản
nhiên ngắm ra phố phường, đường sá, nhà cửa ngoài cửa toa thấy
mãi chưa tới Hà Nội. Khi tàu lên đến Bắc Giang mới hỏi ra.
Tôi bảo Vù Mý Kẻ:
- Không phải bác ấy cúng ma. Bác ấy đốt hương cho ấm như
ta ngồi sưởi lửa ở trên quê, lại chết được muỗi. Mùi hương sưởi
thơm cũng như khói củi gỗ thông ấy mà.
Có lần, Vù Mý Kẻ về Hà Nội, đến chơi uống rượu nhà
Nguyễn Tuân. Tôi nhắc lại chuyện hương sưởi ấm ở Hoàng Su
Phì. Vù Mý Kẻ trả lời: Bây giờ nói thế thì mình hiểu ngay.
Hồi ấy, Vù Mý Kẻ không tin câu cắt nghĩa của tôi. Có những
việc…
Nhưng thôi, lại trở về chiến dịch sông Thao mùa hạ 1949.
Nguyễn Tuân gặp lại Két - người chiến sĩ trinh sát mà Nguyễn
Tuân vừa hỏi tôi có nhớ không, lúc nửa đêm giữa cái ngã sáu bên
gốc cây sữa, cây xà cừ này.
Lần đầu tiên, quân chủ lực mở trận đánh phối hợp lớn, mặt
trận dài suốt bên kia sông Hồng ở Yên Bái vắt sang sông Chảy,
lên Lào Cai. Chúng tôi theo tiểu đoàn 54, đơn vị chủ công của
Trung đoàn, Nguyễn Tuân bỗng gặp lại Két, không ngờ, khi qua
sông.
Chập tối, tập kết ở Mậu A. Các chiến sĩ quần áo bà ba đen như
chúng tôi. Bộ đội được phát như thế nào thì mặc nấy, áo nâu, áo
đen, có khi nhuộm lá cơi, nhuộm pin xanh sẫm, thâm xịt. Đã xế
chiều, người ngồi đen ngòm sân đền Đông Cuông. Trung đội
trưởng Két trong đám chiến sĩ, người hầu bàn nhà hàng Thủy Tạ
Bờ Hồ năm trước, bây giờ là trung đội trưởng trinh sát đã trông
thấy cái ông nhà văn hay uống uýt ky, quăng trô xếch ở Thủy Tạ
lúc chặp tối, sao ông ấy lại lên tận đây thế này. Mà đội mũ vải ka
ki xám, mặt lành lạnh như phái viên cấp trên xuống. Két đến
trước mặt Nguyễn Tuân:
- Ông…
Nguyễn Tuân giơ cái gậy tre, nắm tay Két.
- Anh Két! Đồng chí Két! Tôi cũng sang sông đêm nay. Đồng
chí ở 54 à?
- Vâng ạ.
Chỉ một thoáng, mọi người hối hả về sửa soạn. Suốt chặng
đường vào sâu trong kia, Nguyễn Tuân mong gặp lại Két. Như
còn bao nhiêu chuyện mấy năm qua chưa nói hết. Suốt đêm ấy,
mù mịt bóng sương, hơi nước và lầy lội, hầm hập. Liên tiếp, từng
chiếc thúng, chiếc tam bản của các vạn chài cả mấy tỉnh từ Vĩnh
Yên, Phú Thọ lên Yên Bái đưa bộ đội qua sông. Đi suốt đến sắp
sáng, qua mấy làng tề gần đồn Đại Bục, trông lên quả đồi đồn
Tây lù lù đây rồi mà tiểu đoàn bộ với các đơn vị trực thuộc vẫn
loanh quanh lố nhố dưới ruộng chưa tìm ra nơi ém quân. Du kích
địa phương dẫn lạc đường! Chúng tôi lõm bõm trên những cánh
đồng nước. Sau lưng, anh nuôi quảy nồi chảo va vào nhau lông
chông, như nhạc ngựa đồn Tây ra đuổi.
Ban chính trị trung đoàn có nhạc sĩ Lương Ngọc Trác và cả
hai người Pháp hàng binh thu được trong trận tiểu đoàn 54 luồn
sâu tập kích đồn Bá Giang ở chỗ Phùng ra cửa sông Hát. Hai lính
Pháp đã lái xe vận tải chạy ra giữa đồng. Bây giờ họ làm công tác
địch vận. Ra trận, mỗi gã đeo một cái loa giấy bìa các tông dài
ngoằng như chiếc sừng trâu. Mấy hôm trước đóng quân tập kết ở
bàn đạp. Mỗi ngày mổ lợn, các cu cậu được anh em thương tẩm
bổ thêm cho miếng gan, quả tim ngoài xuất ăn. Hành quân ban
ngày từ Phú Thọ qua dọc sông lên, dưới mưa rào vẫn đi. Hai
người Pháp gày nhẳng, tóp lại, cao lêu đêu, tóc ướt bết trán, vai
nhô lên, cung cúc như con gà chạy mưa.
Nhưng rồi tất cả cũng lên được một quả đồi nứa um tùm, trước
khi trời rạng. Vừa tới lưng dốc đã ran tiếng súng dưới ruộng.
Tiếng nổ lúc sáng bạch nghe toác toác như cháy rừng nứa. Có
người làng ra làm đồng sớm thấy nhiều vết chân lạ dẫm nát lúa
mới cấy. Sợ quá, về bẩm chánh tổng, chánh tổng lên báo đồn.
Quan đồn đoán đêm qua có du kích về. Sắp đến ngày 19 tháng 5
kỷ niệm của Việt Minh. Đồn cho một tiểu đội lính Thái ra sục các
đồi. Bọn lính Thái với người cai Tây cởi trần, xách súng, bắn vào
bụi rậm rồi hô nhau xông lên. Thế nào mà chúng nó lại lên đúng
đồi ban chỉ huy tiểu đoàn và cả ban chỉ huy Mặt trận.
Tiểu đoàn trưởng Vũ Lăng cho hai tiểu đội xuống chặn. Lệnh:
Tuyệt đối không lộ hỏa lực mạnh, chỉ được bắn súng trường, phát
một. Nếu giáp lá cà, đánh dao găm.
Chúng tôi ngồi xổm cạnh bụi tre xế đỉnh đồi. Ngổn ngang
gồng gánh, những càng chân SKG - súng không giật, từng bộ
phận súng cối chưa lắp và những đùm lá cọ trong gói từng chồng
truyền đơn tiếng Pháp, tiếng Thái. Hai người Pháp địch vận mắt
xanh nhờ đứng chơ vơ như hai cái cột. Giữa im lặng thấp thỏm,
không biết bao nhiêu con người núp trong cỏ, trong bóng lá
những quả đồi có thể sắp nổ tung trong ánh nắng. Nguyễn Tuân
chống hai tay lên chiếc gậy tre, lom khom nhìn xuống đất. Tôi
ngồi không yên chỗ, lại nhấp nhỏm đứng. Quái đản, Tây sắp đánh
lên đây mà lại có hai thằng Tây lù lù cạnh mình thế này! Đại
đoàn phó Cao Văn Khánh - chỉ huy phó chiến dịch đến bên, nói
nho nhỏ, trấn an chúng tôi:
- Đạn không bao giờ dính tôi! Các anh ngồi yên đây, không có
gì phải lo.
Câu nói nửa đùa nửa thật về cái mệnh con người. Nguyễn
Tuân đã gặp Cao Văn Khánh trong chuyến đi Nam Trung bộ giữa
năm 1946. Cũng năm ấy tôi vào mặt trận phía Nam cùng Cao
Văn Khánh và Thu Sơn đã làm một chuyến đi ngựa từ Tuy Hòa
qua Củng Sơn lên tiền tuyến Cheo Reo. Đã biết nhau và câu nói
thân mật của con người trải trận mạc có tác động tâm lý. Tôi cảm
thấy thảnh thơi hơn, không bị hút vào sự im lặng ghê rợn. Chỉ
còn thấy hai người hàng binh Pháp lớ rớ loay hoay cạnh bụi tre.
Họ cũng tự biết chớ có loanh quanh đi lại. Chiếc loa giấy khoác
bên nách chốc chốc lại đổi bên lắc một cái. Những con ruồi vàng
bụng mọng máu to thô lố ở ống chân lông lá lăn xuống. Ruồi
vàng, bọ chó, gió Than Uyên…
Bỗng súng rộ lên một chặp dưới lưng đồi rồi lại tắt ngay.
Trong im lặng, liên lạc lên báo ta đã tiếp cận đâm chết một thằng.
Tiếng nổ, đấy là chúng nó bắn chặn để khiêng xác thằng chết về.
Rồi cứ im im thế đến quá trưa. Vẫn quạnh như tờ (sau mới biết
trong đồn vẫn đoán là sắp đến ngày kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí
Minh, du kích đến quấy). Đồn Tây ra lệnh phòng thủ và canh gác
nghiêm ngặt hơn. Trèo lên cây đồi bên này, tôi trông rõ những
người vác hòm đạn vào lô cốt như kiến tha mồi. Chúng tôi lo bữa
ăn cho chắc dạ, ăn cơm nắm, thịt rang, các bếp đã chuẩn bị từ
chiều qua.
Mặt trời đã ngả vàng khè trong làn sương các khe núi dâng
lên. Năm giờ chiều, giờ này máy bay dưới xuôi không lên nữa.
Một tiếng ầm, vang bốn phía. Đại bác ta nã thẳng nổ xanh lè bên
lô cốt. Nhưng chỉ đoàng đoàng được vài quả, nền đặt pháo của ta
bị lún, pháo câm. Một khẩu súng, ngay phát đầu đã văng cả chốt
đuôi, suýt chết thằng Tây địch vận ngồi đằng sau. Nhưng các
khẩu cối thì nhả đạn đều đều, tiếng rền liên tiếp. Lương Ngọc
Trác ngồi trên cây nhìn sang phía bên trái, kêu lên: Bên Đại Phác
nổ súng rồi.
Bộ binh xông lên đồn, lúc ấy trời đã tối hẳn. Khoảng gần tám
giờ tối chúng tôi vào được sân đồn Đại Bục, cái chỗ lúc trưa
trông sang thấy lính Tây, lính Thái trần trùng trục vác hòm đạn.
Bóng tối và khói mù mịt. Bờ rào dây thép gai tan tác. Thằng đồn
Tây mặc váy áo giả làm đàn bà Thái chết dưới chân một lũy đất.
Nhưng trên cái lô cốt cao cắm cờ tam tài giữa sân, đạn vẫn nã
xuống. Những mũi xung kích chiến sĩ cầm mác dạt được vào núp
ngay bên bờ tường lô cốt, chặn bọn trên chòi thoát xuống. Chúng
tôi vào làng tề cạnh cổng đồn đương đùng đùng cháy. Không biết
lửa du kích chiếm làng đốt hay đạn trên lô cốt bắn xuống. Chiếm
được đồn rồi mà khắp nơi cứ loạn xạ.
Cái trống nhà chánh tổng treo đầu hồi ngoài sàn không biết ai
đã khiêng ra vứt lăn lóc đấy. Một đám vác xác người chạy qua.
Nguyễn Tuân, quần áo đen như hung thần hiện lên, tay cầm dùi
trống, mấy chiến sĩ quay ngược nện báng súng vào mặt trống. Cả
đám người đánh trống ngũ liên thúc trận hạ lô cốt cuối cùng lừng
lững trước mặt. Mấy tên lính Thái gan lì vẫn da...
- TÔ HOÀI Được xuất bản theo hợp đồng trao quyền sử dụng tác phẩm
giữa tác giả và Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của
Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Chương 1
TÔI KÉM NGUYỄN TUÂN MƯỜI TUỔI. Trước kia, tôi
không quen Nguyễn Tuân.
Quãng đầu thập kỷ bốn mươi, báo Hà Nội Tân văn, báo Chủ
Nhật mới in của tôi mấy truyện ngắn: Nước lên, Mê gái (Con gà
ri), Bãi ô-tô, Một đêm sáng giăng suông. Hình như Nguyên Hồng
đã chỉ cho tôi biết Nguyễn Tuân đương lững thững bên kia hè
đường Bờ Hồ. Những tiểu thuyết Thiếu quê hương đương in từng
kỳ trên tuần báo Hà Nội Tân văn và những truyện ngắn của
Nguyễn Tuân đăng các báo Tiểu thuyết Thứ bảy, Tao đàn, Thời
vụ, Bạn đường cũng có phần hơi hướng dấu vết trong chữ nghĩa
bước đầu đời viết của tôi mà Vũ Ngọc Phan, ở sách Nhà Văn
Hiện Đại đã đe tôi nên dè chừng cái giọng khinh bạc học đòi ấy.
Đi bên này hồ Gươm thấy Nguyễn Tuân ngồi trong nhà hàng
Hoàng Gia, cái quán rượu kiểu Pháp che cánh sáo ra kín vỉa hè.
Nhà văn chơi chua khác đời. Khăn lướt vố, áo gấm trần, tay
chống dọc chiếc quạt thước thay ba toong, chân bít tất dận giày
mõm nhái Gia Định. Năm ấy, Nguyễn Tuân cũng chỉ khoảng trên
ba mươi đôi chút. Ngoài đường phố chẳng ai ăn mặc kiểu cách
khác thường thế, nếu không phải quan tri phủ, quan thương tá
ngồi xe nhà, áo sa phủ áo gấm, áo đoạn, vừa ý tứ vừa khoe chiếc
bài ngà dây kim tuyến thấp thoáng trong ngực áo. Quán Tavec
Royan này chỉ Tây lui tới. Bên trong, nhảy đầm, dàn nhạc. Nhạc
sĩ Nguyễn Xuân Khoát vươn cổ cò trên cái đại vĩ cầm cao ngang
mặt người chơi, những tiếng nảy ra rên gầm gừ.
Nhưng những con người dị dạng này cũng chẳng làm khác
mắt mấy cái thành phố không còn đìu hiu, vài năm nay đã nhốn
nháo bọn dựa thế Nhật, đầu trọc để trần, áo ka ki ống tay rộng
vàng nhạt đi ghệt da cao, lầm lì và nhâng nháo. Chẳng đoán
được, Nhật thật hay Nhật mỹ ký. Rồi thì tôi xem Nguyễn Tuân
đóng vai người đi săn ở kịch Ngã ba của Đoàn Phú Tứ. Tôi thấy
Nguyễn Tuân thoáng mấy giây một cái bóng người y tá khiêng
cáng trong phim Cánh đồng ma của Đàm Quang Thiện.
Cũng thấy chán. Nhưng đọc bút ký Một chuyến đi viết về
Hương Cảng thì bâng khuâng nhiều. Mấy lần ở cuộc họp tổ bí
mật, nghe Như Phong báo cáo thuyết phục Nguyễn Tuân vào Văn
Hóa Cứu Quốc, chưa có kết quả. Nguyễn Tuân bảo Như Phong:
Ở Hà Nội này, đứa nào Việt Minh, đứa nào tờ-rốt-kít, đứa nào
Đại Việt, Quốc dân đảng, đứa nào bố láo cách mệnh mồm khoác
lác, đứa nào ăn tiền mật thám, tớ biết cả. Nghe nói tợn tạo trắng
trợn, Như Phong mượn một quyển sách rồi ra về.
Những cái biết của tôi về Nguyễn Tuân hồi ấy chỉ mang máng
thế.
Đem cái duyên đẹp đẽ mọi bề quàng cho Nguyễn Tuân có thể
chưa kín nghĩa, mà cũng không hẳn đúng. Về văn và cả về đời.
Có người mê Nguyễn Tuân như điếu đổ, từng chữ. Có người chỉ
lướt một đoạn đã không chịu được cái giọng khụng khiệng,
khệnh khạng. Triết lý và câu văn Nguyễn Tuân không giống vị
hoài sơn trong thang thuốc bắc, ghẻ bổ một tý, lại vô thưởng vô
phạt. Cái chơi của Nguyễn Tuân cũng thế. Với người này, không
thể thiếu Nguyễn Tuân. Người kia thì không chịu đựng được. Ô
hay, người ta ra người ta thì người ta phải là người ta đã chứ.
Nhớ lại năm ấy, ở gian hàng quà chợ Đồng Xuân còn cái bà nạ
dòng khăn nhung áo cánh phin nõn đeo chuỗi hạt cẩm thạch phơn
phớt xanh - hàng bún thang ngon có tiếng. Chỉ một bát thang con
bún lá, giọt cà cuống thơm một cách khó chịu mà lại không có
không được, cũng có thể viết lên một cái gì. Nói bâng quơ, chẳng
ra nhủ mình, chẳng ra cho người khác. Những cái ấy phải viết,
viết. Như những đêm áp Tết, năm cùng tháng tận, lại lấy ra mấy
cái đĩa hãng Pa-thé mua được ở chợ Giời, mà nghe ả Đàm Mộng
Hoàn: Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán… Cánh chim bằng chín
vạn những chờ mong… Thế nào ông ấy cũng lại nói: Cái hơi của
Mộng Hoàn thì sang, nhưng không đẹp bằng giọng bà Chu. Phải
viết, cái này phải viết thôi. Những năm về sau, Nguyễn Tuân vẫn
làm việc cho viết, khắc khoải sự viết, mà không viết bao nhiêu. Ở
đây nữa, chính bởi hơi sức và trong tâm sự. Phải đến Nguyễn
Tuân viết ra thì cũng một vùng phố xá ấy mới thành tên gọi, mới
thành Phố Phái - hai chữ của Nguyễn Tuân sáng tạo đặt tên cho
tranh Bùi Xuân Phái. Và trong cuộc chơi, ông cửa hàng trưởng
Bôđêga, chú nhà bàn, nhà bếp khách sạn Thống Nhất hay bác
Chữ bán cháo gà gõ ống thổi làm phách hát ả đào giọng chèo ở
ngã sáu dốc Hàng Kèn, hay khi lên chơi nhà ông Ba trên Nghĩa
Đô thì dẫu cho Nguyễn Tuân chưa hề quen, cũng không phải là
trùm trò, các chủ quán, chủ nhà đều trân trọng như ông ấy mới là
chủ cuộc. Cái duyên ấy xưa nay vẫn như một.
Những năm trước 60, cái dốc ngã sáu Hàng Kèn ban đêm
thanh vắng lắm. Những cây sấu, cây sữa cũng chưa như mấy năm
sau phải một trận bom Mỹ đánh sập hai ngôi nhà và mấy gốc cổ
thụ. Bờ hè dưới hai hàng cây hiu hắt khơi lại cảnh xưa cũ, còn cái
bờ tường đắp dòng chữ xi măng nổi Phúc Đình cha, tên hiệu
thuốc sốt rét nổi tiếng một thời. Nhớ Cây Thị Hàng Kèn đầu Lê
Lợi, cuối Hàng Giò nhiều hơn tên phố mới, đối với chúng tôi.
Mấy hàng phở gánh và quán cóc. Nơi ăn đường ăn chợ này
không chè chén xô bồ như trên ngõ Sầm Công, chim quay Tiểu
Lạc Viên, cà phê phin Ca, cà phê đá Lý Hảo… cũng không ví
được với cơm tám Tân Việt, Việt Hương quanh chợ Hôm gần
đấy.
Dốc Cây Thị không còn cây thị, hàng quán chỉ rải rác có buổi.
Ngồi đây, đầu phố Hàm Long nhìn sang sở Văn Tự, tưởng như
lão Tàu Bay còn gánh phở bán buổi sớm. Cũng cạnh đấy, bên dãy
nhà mà thời tạm chiếm Pháp đặt đài phát thanh Con Nhạn của
quân viễn chinh, hồi Tiền Khởi Nghĩa, đội AS (ám sát) của Việt
Minh đã bắn chết Thiên Nga, nữ đặc vụ của Nhật trong quán cà
phê này. Nhưng không phải chỗ hàng cà phê của ông cắt tóc ở
hợp tác xã chỗ ngã sáu mới về mở, đêm B52 ấy, một vỏ tên lửa
rơi gãy võng cái mái hiên. Những biến thiên của con người phố
xá, chắp nối lại mà chỉ có ngòi bút Nguyễn Tuân mới phát hiện
cho người đọc thấy được những lăng cạnh gốc gác, như muôn vật
trong trời đất, khác nhau mà lại dính líu với nhau. Những ngã
năm, ngã tư, ngã bảy, người đi lại sinh ra đường cái và mọi sinh
hoạt, làm ăn, đắp đổi, người hút thuốc lào thì có người bán đóm,
phường chợ thì có người đóng đinh đế giày, ông bán hàng nước
chè tươi, ông lão chữa giày dép với khách dừng chân.
Phở Tàu Bay - mà bây giờ ở Sài Gòn có vài ba quán của các
bà phòng nhất, phòng nhì và con cháu ông Tàu Bay đã quá cố,
cũng đôi chút phảng phất mùi vị phở Bắc, gánh phở ông Tàu Bay
xưa đỗ cạnh dốc bên gốc cây thị đầu sân vào sở Văn Tự - không
biết tại sao người qua đường lại đặt tên công sở ấy là sở Văn Tự.
Có lẽ cũng như chỉ tình cờ một câu bông đùa cái mũ da lưỡi trai
hơi dài khác thường của ông hàng so sánh với chiếc mũ phi công
mà thành tên phở Tàu Bay, một hàng phở gánh buổi sáng. Thời
ấy, sáng, trưa, tối đều đặn cho người ăn quà phở mà không phải là
dùng phở đến no. Hiếm cửa hàng phở, hiệu phở, rặt phở gánh,
chuyên phở nước. Phở hiệu xào ròn, xào mềm, tái lăn, sốt vang,
bát phở bên đĩa mùi, húng và cút rượu trắng. Phở gánh, món quà
nhẹ. Ngủ trưa dậy, tối khuya trước khi đi ngủ. Không ai khai tâm
chén rượu lúc ăn phở bát. Thịt bò chín từng tảng, cũng chưa rạch
ròi mấy chỗ nạm, gầu, mỡ hay nhừ. Trong cái bát chiết yêu loe
miệng thắt đáy, nước dùng bốc khói mà trong như nước mưa li ti
nổi chút váng mỡ vàng, lơ thơ mấy lát hành hoa, rau mùi. Làm
bát nào, thịt thái bát ấy. Đảo phở, bánh trồi lên quá, bánh trương,
ăn phải bỏ dở. Nhưng đạo ăn phở của Nguyễn Tuân có cách
riêng.
Trong lòng vỉa hè ngã sáu quang đãng cứ khoảng mười giờ tối
trở đi mới lập lòe hàng quán. Những tối thứ bảy, từ đầu Hàng
Đào xuống Tràng Thi, đến tận chợ Đuổi, mọi ngã ba ngã bảy đều
kê bục, cắm cờ. Các đoàn văn công nhảy sạp ràm rạp. Tiếng Trần
Chất hát Chiếc khăn piêu đến đinh tai trong loa. Người xem chen
chúc lúc ấy mới vãn. Đội quân cảnh đeo băng đỏ đã bắt đầu đi
tuần đêm thiết quân luật. Các gánh lục tào xá cháo gà phải hai ba
giờ sáng mới hết hàng. Đã quảy về còn có người gọi theo. Bình
yên, chẳng ai nhớ thành phố hãy còn phải quản trị theo chế độ
quân sự. Dọn hàng quá khuya đã thành lệ.
Khi có hàng quà, những ngã ba đã văng vắng lại hiện ra bộ
mặt khác. Chốc chốc, thong thả qua một xe đạp lênh khênh, tiếng
vòng nan hoa quay gió vù vù. Cái xe trâu Trung Quốc nặng như
cùm được người ta vác từ chiến khu Thái Nguyên Việt Bắc về.
Gánh cháo gà bác Chữ đã dềnh hẳn xuống mặt đường nhựa.
Chiếc chậu nhôm đựng nước, cậu con trai thả chồng bát vào chậu
rồi nhặt ra từng cái, khăn lau miết quanh miệng chiếc bát rếch
của những khách ăn mở hàng. Rồi bác Chữ thừ ra. Như còn tiếc
đám múa sạp lúc nãy hay sao. Bác Chữ cầm chiếc ống nứa thổi
pho pho vào cửa lò mới được cời, mẩu củi hồng rực.
Rồi lại quay ra, ngồi lên bó củi, một tay đấm lưng, tay kia gõ
cái ống nứa giả vờ điểm tiếng róc phách, chốc lại tom chát đánh
nhịp xuống thành thùng bát, miệng ư ừ giọng mũi như rên:
Nam nhi đứng ở trong trời đất
Quyết ăn chơi cho đủ mùi đời
Sự cùng thông bĩ thái tự trời
Sông có khúc con người có lúc…
Bộ quần áo nâu dày mo nang dưới ánh ngọn điện chao lắc lư
trên dây giữa đường. Mặt nhăn nhó đăm đăm, chẳng biết đương
phởn hay buồn nỗi hóng khách. Chốc lại cầm ống nứa thổi bếp,
xong lại rền rĩ: Nam nhi đứng ở… Tôi không trông rõ thật mặt
cái bác cháo gà Chữ ấy ban ngày bao giờ. Như người với ma, nửa
đêm đến rạng sáng thì lặn. Bác Chữ nhìn hò háy trước ánh lửa,
mắt ấy không viền vải tây điều tất cũng lông quặm. Dần dần
người ngợm ở đâu cứ lẩn thẩn ra, như cỗ tam cúc phải đủ xe pháo
mã với năm quân tốt hỉn. Gánh lục tào xá lù lù đến ghé cạnh. Cái
ông chè đậu xanh lục tào xá thoạt hiện ra thật oai. Như đức Quan
Ngài hồi tiền nhật còn ở ẩn kết nghĩa với ông cháo gà Lưu Bị
dưới gốc dâu cây sữa xòe tán lá ba tầng ba lọng vàng điềm về sau
làm vua. Lão râu đen dài, trán nhẵn hói bóng lên nửa đầu, khi
chưa gặp thời thì quảy hàng mà thôi. Nhưng ngắm kỹ, chưa chắc
lão đã bằng tuổi tôi băm lăm lúc ấy. Có lẽ chỉ mới năm trước còn
thói quen nuôi râu giả già để trốn quân dịch, nhiều người mắt đảo
như chớp, nhưng râu ria lõng thõng.
Áp chân tường số nhà 81, ông hàng cà phê bít tất. Cũng là
trông hình thù mà tưởng ra, cà phê pha vào ấm nhôm, mảnh vải
lọc thõng xuống như chiếc bít tất nâu. Ngọn đèn hoa kỳ lom đom
giữa mặt chõng tre, ngổn ngang mấy cái ghế con đặt quanh.
Khách ngồi xuống, trông lên mới thấy mặt ông hàng lom khom,
bóng loáng nắng gió đồng chiêm. Bộ quần áo nâu non nhờ nhếch,
dáng ngơ ngơ như đương lẩm nhẩm ai trả tiền, ai lỉnh mất.
Nguyễn Tuân không thích cái cà phê hâm nóng đầu đường thế
này. Nhưng vẫn thường ghé xe đạp dựng lên gốc cây xà cừ.
Không biết có phải chỉ bởi thói quen xưa cũ cứ tối tối, tôi lại rước
tôi ra đường! Những đêm gió lùa rào rạt mặt nhựa, nhồi thêm
thuốc vào tẩu, ngồi tránh vào bên gốc xà cừ gồ ghề - Nguyễn
không chịu được mùi hoa sữa, ghét lây cả cái cây. Chén cà phê
sành nâu lồi lõm, có khi chỉ nhấp một ngụm, rồi bỏ lạnh ngắt.
Dường như ngại tôi có thể vì ông ấy mà áy náy không biết cà phê
hạt muồng hay ngô rang.
Nguyễn Tuân nói: Mặc kệ mình. Cậu cứ việc hồi tưởng. Ông
anh nghĩ tôi đương ngắm nghía một kỷ niệm đâu đó nên mới ưa
lai vãng tới đây, bởi biết tôi vốn cũng lạnh nhạt với cà phê. Vào
quãng giữa thế kỷ này thành phố và con người đều trải nhiều
quãng đời chằng mắt xích với nhau. Tôi cũng như vậy. Tôi đến
cái ngã năm, ngã sáu này không phải ngẫu nhiên. Mười năm
trước, ven hồ đằng kia, còn những tòa biệt thự mọc lên giữa
những bụi chuối um tùm. Mặt trận đã lan đến đấy, tan hoang cả.
Tôi làm phóng viên của báo Cứu Quốc thường qua lại đây, khi
xuống tuyến phòng thủ phía chợ Mơ. Có hôm ngủ đêm lại trong
ngôi nhà bỏ không. Ở chỗ chúng tôi đương ngồi, tiếng súng và
người núp ngã xuống bên mỗi gốc cây. Báo Thủ Đô đăng tin
chiến sĩ Nguyễn Thành ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch từ
hồ Thiền Cuông tới. Quả bom đầu tiên của quân giới ta tự tạo có
lẽ được tung ra ở chỗ kia đấy. Thành phố đương tổ chức tìm đào
hài cốt liệt sĩ và người chết đường. Ban ngày, trên vỉa hè đặt hàng
dãy những chiếc tiểu khói hương nghi ngút.
Ở cái ngã sáu đường đời ấy vẫn leo lét ngọn đèn con của lão
cà phê 81, ánh đèn chai và lửa bếp thùng cháo bác Chữ. Mấy cái
xích lô tã chốc lại lạch xạch lượn lờ qua. Trông mặt người đạp xe
cũng có thể đoán được tông tích, mỗi người đều hằn nét bộ mặt
thời gian và tờ lịch hàng ngày của thành phố. Có lão râu xồm
khuya về uống rượu húp cháo rồi nằm vắt người trên đệm xe, sàn
xe ngủ bên gốc cây. Đấy là các ông chánh, ông lý tề vừa chạy
Tây càn, vừa sợ Việt Minh trả thù đã bỏ các vùng trắng ven nội
vào đây. Đám cơ sở ta hốt chết trốn vào thành, trẻ hơn và đỡ lầm
lì, có thể lại công tác bí mật, không ác ôn như mấy lão xích lô râu
rậm kia. Nguyễn Tuân bảo: Cậu có để ý đường phố bên Bắc Kinh
lúc gần sáng, những xe la, xe lừa bánh gỗ cao lênh khênh, những
lão đánh xe đầu hói như quả dưa hấu ngồi ngất ngưởng trên đống
củ cải, vẫn oai phong chẳng khác Tưởng Giới Thạch, Uổng Tinh
Vệ thất thế!
Tôi bàn theo:
- Lão xế lô, lão lục tào xá này nhất định là tề ngụy cũ. Cả lão
cà phê bít tất, lão cháo gà dấm dớ thế nhưng trông tay thoăn thoắt
nhặt tiền, xếp tiền thế kia đủ biết.
Nguyễn Tuân hỏi:
- Có nhớ Két không?
- Tay Két trinh sát tiểu đoàn 54?
- Cứ ngồi đây mình lại nhớ nó. Không hiểu sao.
Khói thuốc trong nõ tẩu phầm phập bốc xanh trắng um lên.
Thì ra, ở cái đầu đường đêm hôm chẳng thú vị mấy chút,
chính Nguyễn Tuân mới đương hồi tưởng. Ở mỗi cái cùng trông
thấy, nhưng từng người lại ngờ khác nhau. Thế nào mà ở đây
Nguyễn Tuân lại nhớ tới Két chiến dịch sông Thao mùa hạ 1949.
Chập tối ấy, bộ đội qua sông xuống đò bến đền Đông Cuông gần
Mậu A, rồi hành quân suốt đêm vào hậu địch để kịp chiều hôm
sau đánh đồn Đại Bục. Tình cờ, chúng tôi gặp lại Két ở Mậu A,
Nguyễn Tuân quen Két của Trung đoàn Thủ đô. Chiến dịch ấy,
trung đội trưởng trinh sát Két đã hy sinh, nằm lại bờ bên kia sông
Thao.
Đi và đi thực và mộng cả đời Nguyễn Tuân. Làm thế nào đi
được, chỉ cốt đi được. Năm 1937, Nguyễn Tuân ra Hương Cảng
làm tài tử màn bạc. Phim truyện Việt Nam, chủ Trung Quốc thuê
một số người ở Hà Nội sang đóng. Tôi đã xem Cánh đồng ma ở
rạp Hiệp Thành phố Hàng Bạc - rạp chèo cải lương, thỉnh thoảng
chiếu phim phong thần, kiếm hiệp bán vé một hào đồng hạng.
Phim Cánh đồng ma đầu Ngô mình Sở. Nguyễn Tuân đóng một
vai phụ - có thể lôi người đi ngoài đường vào sắm vai cũng được,
đấy là người y tá mặc áo lui trắng, nâng đầu cáng thương, lừ lừ
qua ống kính chớp nhoáng một hai giây. Có thế thôi, mà Nguyễn
Tuân lặn lội sang Hương Cảng trong lúc năm hết Tết đến.
Cũng không phải chơi bời đua đả. Đám hổ lốn đóng phim còn
lục đục lừa nhau, chửi bới nhau vì các chủ phim tranh nhau xé
đám phu mộ đóng phim này đã làm thêm phim Trận phong ba tồi
quá gửi về nước tranh khách trước nhưng không có người xem.
Nguyễn Tuân ở trong đám phu đóng một phim. Cũng không ăn
cánh với ai. Bà phô tô Phú ho lao gày rạc dâm đãng đến quái dị,
trùm trò Đàm Quang Thiện và Nguyễn Doãn Vượng, điểm mặt
cũng không phải ai tri âm tri kỷ khiến Nguyễn Tuân phải đắm
đuối bỗng dưng lênh đênh đi. Mà cái thúc giục vẫn là những cơn
đói đi của mình. Không khó không dễ, không biết ai, chỉ biết một
mình. Nguyễn Tuân muốn đến Hương Cảng, nặng nề và nhẹ
nhàng, thế thôi. Trong đêm trừ tịch ở hòn đảo phồn hoa nhất châu
Á, hứng thú và buồn với hồn cốt những trang bút ký Một chuyến
đi, chỉ có tâm sự ấy đã giục giã nhiều.
Một đời ao ước phương trời với một cung cách đi. Trong tiểu
thuyết Thiếu quê hương, cả một chương mười mấy trang về vùng
than với những cảng Rơđông, cửa Điền Công, những cơn gió
ngoài vịnh vào đen nhuyễn màu than trùm lên phố biển Hòn Gai.
Hồi ấy, Mộng Tuyết - Đông Hồ trong Hà Tiên ra chơi Hà Nội.
Hôm về, Nguyễn Tuân tiễn ngoài ga Hàng Cỏ. Nguyễn Tuân có
viết về cuộc tiễn biệt ấy trên báo Bạn Đường ở Thanh Hóa, đã
cười tiên sinh Đông Hồ, tàu sắp chạy, mà vẫn cùng bạn bè lắc lư
ngâm vịnh thù tạc suông không có chén. Còn cô Mộng Tuyết thì
lại khéo tưởng tượng ra như trông thấy con người ấy hôm nào
mới ở vùng gió than, bão than còn cuốn theo đến tận sân ga. Trên
khuôn mặt cháy nắng của người lữ hành, hai lỗ mũi cũng xám
đen những than là than.
Cô con gái làm thơ ở Phương Thành nhìn Nguyễn mà cảm
động, bởi từ xưa kia cô đã ước mơ thèm một hơi gió lạ, khát thở
một bầu không khí trời, nước lênh đênh hàng tháng trên biển cả
để rồi đổ bộ trên một bến bờ xa. Trải qua khắp kinh tuyến, vĩ
tuyến của địa cầu, để đi tới chỗ bốn mùa tuyết rơi, băng đóng đến
vùng sa mạc gió nắng lửa than, trèo tuyết núi Hy Mã Lạp Sơn
lạnh cóng và tắm nước sông Hằng, vượt biển Đại Tây Dương,
qua Hy Lạp, rồi trên lưng lạc đà xem Kim Tự Tháp rồi trở lại
thưởng hoa anh đào trong một ngày hội ở Nhật Bản. Ngày hè thì
lưu liên các vùng bãi biển Ý Đại Lợi. Thu về thì ngồi xem lá
vàng rụng theo các pho tượng của Lúc-Xem-Bua. Bao nhiêu
tiếng gọi của Cao Rộng Xa Xăm đã thúc giục ám ảnh mãi lòng
thích sống một cuộc đời bấp bênh có nhiều xê dịch, biến đổi của
thiếu nữ. Cô thiếu nữ mà ngày còn thơ đã có ý muốn đi tận chân
trời. Thuyền khách sông Hương đêm thất tịch. Lạnh lùng trăng
nước khúc nam ai… mà ai cảm chung một mối tâm sự não ruột
của khách Giang Châu Tư Mã (Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
bút ký, Phương Thành một ngày thu muộn, 1939 của Mộng
Tuyết).
Cũng một nòi tình mơ màng như cô Mộng Tuyết, chỉ có rày
ước mai ao, thật ra Nguyễn Tuân chưa đi đường bộ quá Mông
Dương và đường nước chưa ra khỏi cửa Điền Công tới Móng Cái
bao giờ. Phải đến hơn hai mươi năm sau viết trang sách về vùng
than, Nguyễn Tuân mới tới Hải Ninh lần đầu, cùng đi với Nguyên
Hồng, Vạn Lịch và tôi. Tưởng như khó tin, mà sự thật như thế.
Thiên bút ký mênh mang sóng biển Cửa Đại kia, đọc kỹ thì nhận
ra phải nhờ tác giả có người nhà ở Cửa Đại, mới đến được. Ngày
ấy, Nguyễn Tuân đã viết một truyện ngắn đăng báo Tiểu thuyết
Thứ bảy, trên đề: Tặng ông Đỗ Ngọc Côn, nhà máy đèn Móng
Cái. Khi này, Phạm Duy làm thợ phụ nhà máy điện, ở nhờ ông
Đỗ Ngọc Côn (Phạm Duy: Hồi ký thời cách mạng, kháng chiến California, 1989). Mà ông bạn làm nhà máy đèn Móng Cái ở phố
chính Clamoocgăng ấy cũng chưa lần nào gửi tiền tàu xe rủ
Nguyễn Tuân ra chơi thưởng thức cái hiu hắt nơi địa đầu. Hàng
chữ đề tặng chỉ là một ao ước. Mà phải đến dịp nhờ xe của cán bộ
Vạn Lịch, mới ra được bãi Trà Cổ, xuống lái than ngược sông
Mang lên cầu Bắc Luân - Móng Cái, đến Thán Pún - sự bôn tẩu
của chúng tôi có công lệnh và dấu đóng giấy đi đường cẩn thận.
Cầu kỳ và khó tính cũng là tính riêng trong cái thích thú ham
đi mà không được đi. Ở phương Đông còn có cái chơi đi mà
không đi, ngồi nhà ngắm tranh sơn thủy, nuôi muông thú lạ, uốn
cây, gẩy cái lá trúc rụng xuống thế giới bể nước nho nhỏ rêu nổi
hòn đá cây si bên hòn non bộ có ngôi chùa mái cong, có chú tiều
vác củi qua cầu. Cho thỏa cái tưởng tượng mà thôi.
Nguyễn Tuân ở vế người thứ nhất, không phải các ông ngồi
rung đùi chơi trời đất thu nhỏ vào cái bể sành và núi non bộ. Mà
đôi khi chơi cây cảnh, một chút chắp nối. Ơ hờ, hờn dỗi, bực bội,
nhớ thương không đâu gửi vào một nhánh địa lan cánh tím, một
con chó đá canh cửa, một quả phật thủ, một hòn cuội suối, một
chiếc gối sứ mới đây được bưng ra từ một tiệm hút chợ Cũ Sài
Gòn. Nguyễn Tuân chỉ thích đi, nhưng trong mọi sửa soạn còn kỹ
lưỡng hơn đi. Mùa hạ năm 1949, Nguyễn Tuân và tôi theo tiểu
đoàn 54 Trung đoàn Thủ đô tiến quân vào mở chiến dịch tiêu diệt
một chuỗi cứ điểm hành lang bờ sông Thao án ngữ Tây Bắc, các
đồn Đại Bục, Đại Phác, Khe Pịa, Ngòi Mác, Mã Yên Sơn lên đến
đồn tiểu khu Phố Ràng. Chuyến ấy, tôi đi cùng Nguyễn Tuân được làm quen với Nguyễn chuyến đi đầu tiên. Tôi đã ghi lại:
Nguyễn Tuân xắm nắm quanh cái bi đông nước bọc dạ xanh
của anh. Lần đầu tiên ở mặt trận, đi lâu với Nguyễn, tôi mới thấy
quá nhiều đức tính của người lên đường. Khỏe, vững, hành trang
không thừa, cũng không thiếu một cái gì. Trên lưng, gọn gàng
chiếc ba lô Nhật. Một sợi dây nhỏ cũng có chỗ để rồi dùng đến
sợi dây. Cuối cùng, mọi thứ giấy má có thể lộ liễu của riêng mình
đều phải để lại căn cứ, không được đem theo vào vùng địch. Chỉ
một cuốn sổ nhỏ, cái áo mưa, bỏ vào ba lô vừa phải. Một bao
cơm nắm, thêm cái thắt lưng lương khô cuốn chéo ngang mình.
Đầy bi đông nước, Nguyễn Tuân đã cẩn thận buộc ghì vào thắt
lưng cho khi bước đỡ xóc (Ngược sông Thao, phóng sự, Nhà xuất
bản Cứu Quốc 1949).
Trong nghề đi - nghề, chứ sao, cẩn thận đã thành thói quen và
cầu kỳ đến đam mê. Sửa soạn cũng là khai thác để thưởng thức
được chu đáo. Không phải cứ đứng đắn và khôi hài như nhạc sĩ
Nguyễn Xuân Khoát. Ở trường lục quân bên Vân Nam về, anh
Khoát dạy tôi thuật đi đường giữ được dai sức của Bát lộ quân.
Nhanh mười bước lại thong thả ba bước, cứ thế cả ngày chân
không biết mỏi. Cẩn thận, mọi thứ trên mình và trong ba lô đều
gọi thành con số. Ví như cả thảy đồ đạc có mười lăm thứ. Sáng
ra, trước khi đi đếm chỉ có mười bốn. Thế là còn thiếu một. Rõ
thật buồn cười, nhưng nếu cười, anh Khoát không bằng lòng. Mọi
cẩn thận của Nguyễn Tuân thiết thực hơn, nhưng không thành
con số như trên. Ngòi bút chì gài trên túi áo, ngồi đọc cũng ghi
lên sách. Không biết đến thế kỷ nào có cái hơn, chứ bút chì trên
giấy thì không bao giờ phai. Một tiệp bìa cứng với cái bút chì.
Lắm lúc thấy ông bạn đường chịu khó đến vậy, mình vừa để ý,
vừa thích vừa ngán ngẩm cho những khó nhọc của nghề đi không
biết thế nào là cùng. Lo cho việc đi là yêu đi và biết hưởng thụ đi.
Mải mê quên ngày tháng, nhưng tính đếm sửa soạn cho mải mê
thì phải nhớ từng ly. Cái phóng khoáng của ông ấy không lẫn với
buông tuồng, cẩu thả.
Mà sự chuẩn bị tỉ mẩn của con người muốn khi ta chết đi, da
ta được thuộc làm cái va li cũng khá khác thường. Năm 1961,
Nguyễn Tuân lên Hà Giang dự khánh thành đường Bắc Quang Hoàng Su Phì. Hòa bình thảnh thơi rồi, nhưng vẫn lại là về rừng,
lại đeo cái ba lô Nhật với những sợi dây dù Mỹ buộc màn, không
quên chiếc bi đông chiến dịch sông Thao hơn mười năm trước.
Giữa đám các thứ lỉnh kỉnh, một xếp giấy bản lau chén bát, một
quyển sách đang đọc và mấy thẻ hương mua thửa ở hàng quen
cửa chợ Đồng Xuân. Khánh thành đường mới trên rừng thì nhà
khách cũng là mấy cái lán cắm ven đường. Hương chống ẩm,
chống muỗi đây. Hương chống muỗi, chứ Nguyễn Tuân kỵ mùi
tỏi và không chịu được mùi thơm ở các thứ hương Ấn Độ cứ
thoang thoảng rờn rợn như có ma lẩn quất trong nhà.
Quả nhiên là những nơi ngả lưng dã chiến ở Hoàng Su Phì
khách nghỉ đêm ở các lán dân công, nền đất và phên vách mới
được sửa sang lại đôi chút. Tối đến, mùi hương ở lán ông khách
văn ngào ngạt ra. Vù Mý Kẻ, bí thư huyện Đồng Văn hỏi nhỏ tôi:
- Nó cúng ma hả?
Làm thế nào cắt nghĩa cho ông bạn người Mông này hiểu cho
cái thú chơi sưởi mùi hương như thế. Mới như hôm qua, Vù Mý
Kẻ năm trước lần đầu về Hà Nội. Nhiêu khê quá, xe liên vận
Đồng Văn xuống Hà Giang, lại chuyển ô-tô khác về Phú Thọ. Ở
đấy, lên tàu hỏa. Đoàn tàu xuôi về đến ga Hàng Cỏ, vẫn ngồi thản
nhiên ngắm ra phố phường, đường sá, nhà cửa ngoài cửa toa thấy
mãi chưa tới Hà Nội. Khi tàu lên đến Bắc Giang mới hỏi ra.
Tôi bảo Vù Mý Kẻ:
- Không phải bác ấy cúng ma. Bác ấy đốt hương cho ấm như
ta ngồi sưởi lửa ở trên quê, lại chết được muỗi. Mùi hương sưởi
thơm cũng như khói củi gỗ thông ấy mà.
Có lần, Vù Mý Kẻ về Hà Nội, đến chơi uống rượu nhà
Nguyễn Tuân. Tôi nhắc lại chuyện hương sưởi ấm ở Hoàng Su
Phì. Vù Mý Kẻ trả lời: Bây giờ nói thế thì mình hiểu ngay.
Hồi ấy, Vù Mý Kẻ không tin câu cắt nghĩa của tôi. Có những
việc…
Nhưng thôi, lại trở về chiến dịch sông Thao mùa hạ 1949.
Nguyễn Tuân gặp lại Két - người chiến sĩ trinh sát mà Nguyễn
Tuân vừa hỏi tôi có nhớ không, lúc nửa đêm giữa cái ngã sáu bên
gốc cây sữa, cây xà cừ này.
Lần đầu tiên, quân chủ lực mở trận đánh phối hợp lớn, mặt
trận dài suốt bên kia sông Hồng ở Yên Bái vắt sang sông Chảy,
lên Lào Cai. Chúng tôi theo tiểu đoàn 54, đơn vị chủ công của
Trung đoàn, Nguyễn Tuân bỗng gặp lại Két, không ngờ, khi qua
sông.
Chập tối, tập kết ở Mậu A. Các chiến sĩ quần áo bà ba đen như
chúng tôi. Bộ đội được phát như thế nào thì mặc nấy, áo nâu, áo
đen, có khi nhuộm lá cơi, nhuộm pin xanh sẫm, thâm xịt. Đã xế
chiều, người ngồi đen ngòm sân đền Đông Cuông. Trung đội
trưởng Két trong đám chiến sĩ, người hầu bàn nhà hàng Thủy Tạ
Bờ Hồ năm trước, bây giờ là trung đội trưởng trinh sát đã trông
thấy cái ông nhà văn hay uống uýt ky, quăng trô xếch ở Thủy Tạ
lúc chặp tối, sao ông ấy lại lên tận đây thế này. Mà đội mũ vải ka
ki xám, mặt lành lạnh như phái viên cấp trên xuống. Két đến
trước mặt Nguyễn Tuân:
- Ông…
Nguyễn Tuân giơ cái gậy tre, nắm tay Két.
- Anh Két! Đồng chí Két! Tôi cũng sang sông đêm nay. Đồng
chí ở 54 à?
- Vâng ạ.
Chỉ một thoáng, mọi người hối hả về sửa soạn. Suốt chặng
đường vào sâu trong kia, Nguyễn Tuân mong gặp lại Két. Như
còn bao nhiêu chuyện mấy năm qua chưa nói hết. Suốt đêm ấy,
mù mịt bóng sương, hơi nước và lầy lội, hầm hập. Liên tiếp, từng
chiếc thúng, chiếc tam bản của các vạn chài cả mấy tỉnh từ Vĩnh
Yên, Phú Thọ lên Yên Bái đưa bộ đội qua sông. Đi suốt đến sắp
sáng, qua mấy làng tề gần đồn Đại Bục, trông lên quả đồi đồn
Tây lù lù đây rồi mà tiểu đoàn bộ với các đơn vị trực thuộc vẫn
loanh quanh lố nhố dưới ruộng chưa tìm ra nơi ém quân. Du kích
địa phương dẫn lạc đường! Chúng tôi lõm bõm trên những cánh
đồng nước. Sau lưng, anh nuôi quảy nồi chảo va vào nhau lông
chông, như nhạc ngựa đồn Tây ra đuổi.
Ban chính trị trung đoàn có nhạc sĩ Lương Ngọc Trác và cả
hai người Pháp hàng binh thu được trong trận tiểu đoàn 54 luồn
sâu tập kích đồn Bá Giang ở chỗ Phùng ra cửa sông Hát. Hai lính
Pháp đã lái xe vận tải chạy ra giữa đồng. Bây giờ họ làm công tác
địch vận. Ra trận, mỗi gã đeo một cái loa giấy bìa các tông dài
ngoằng như chiếc sừng trâu. Mấy hôm trước đóng quân tập kết ở
bàn đạp. Mỗi ngày mổ lợn, các cu cậu được anh em thương tẩm
bổ thêm cho miếng gan, quả tim ngoài xuất ăn. Hành quân ban
ngày từ Phú Thọ qua dọc sông lên, dưới mưa rào vẫn đi. Hai
người Pháp gày nhẳng, tóp lại, cao lêu đêu, tóc ướt bết trán, vai
nhô lên, cung cúc như con gà chạy mưa.
Nhưng rồi tất cả cũng lên được một quả đồi nứa um tùm, trước
khi trời rạng. Vừa tới lưng dốc đã ran tiếng súng dưới ruộng.
Tiếng nổ lúc sáng bạch nghe toác toác như cháy rừng nứa. Có
người làng ra làm đồng sớm thấy nhiều vết chân lạ dẫm nát lúa
mới cấy. Sợ quá, về bẩm chánh tổng, chánh tổng lên báo đồn.
Quan đồn đoán đêm qua có du kích về. Sắp đến ngày 19 tháng 5
kỷ niệm của Việt Minh. Đồn cho một tiểu đội lính Thái ra sục các
đồi. Bọn lính Thái với người cai Tây cởi trần, xách súng, bắn vào
bụi rậm rồi hô nhau xông lên. Thế nào mà chúng nó lại lên đúng
đồi ban chỉ huy tiểu đoàn và cả ban chỉ huy Mặt trận.
Tiểu đoàn trưởng Vũ Lăng cho hai tiểu đội xuống chặn. Lệnh:
Tuyệt đối không lộ hỏa lực mạnh, chỉ được bắn súng trường, phát
một. Nếu giáp lá cà, đánh dao găm.
Chúng tôi ngồi xổm cạnh bụi tre xế đỉnh đồi. Ngổn ngang
gồng gánh, những càng chân SKG - súng không giật, từng bộ
phận súng cối chưa lắp và những đùm lá cọ trong gói từng chồng
truyền đơn tiếng Pháp, tiếng Thái. Hai người Pháp địch vận mắt
xanh nhờ đứng chơ vơ như hai cái cột. Giữa im lặng thấp thỏm,
không biết bao nhiêu con người núp trong cỏ, trong bóng lá
những quả đồi có thể sắp nổ tung trong ánh nắng. Nguyễn Tuân
chống hai tay lên chiếc gậy tre, lom khom nhìn xuống đất. Tôi
ngồi không yên chỗ, lại nhấp nhỏm đứng. Quái đản, Tây sắp đánh
lên đây mà lại có hai thằng Tây lù lù cạnh mình thế này! Đại
đoàn phó Cao Văn Khánh - chỉ huy phó chiến dịch đến bên, nói
nho nhỏ, trấn an chúng tôi:
- Đạn không bao giờ dính tôi! Các anh ngồi yên đây, không có
gì phải lo.
Câu nói nửa đùa nửa thật về cái mệnh con người. Nguyễn
Tuân đã gặp Cao Văn Khánh trong chuyến đi Nam Trung bộ giữa
năm 1946. Cũng năm ấy tôi vào mặt trận phía Nam cùng Cao
Văn Khánh và Thu Sơn đã làm một chuyến đi ngựa từ Tuy Hòa
qua Củng Sơn lên tiền tuyến Cheo Reo. Đã biết nhau và câu nói
thân mật của con người trải trận mạc có tác động tâm lý. Tôi cảm
thấy thảnh thơi hơn, không bị hút vào sự im lặng ghê rợn. Chỉ
còn thấy hai người hàng binh Pháp lớ rớ loay hoay cạnh bụi tre.
Họ cũng tự biết chớ có loanh quanh đi lại. Chiếc loa giấy khoác
bên nách chốc chốc lại đổi bên lắc một cái. Những con ruồi vàng
bụng mọng máu to thô lố ở ống chân lông lá lăn xuống. Ruồi
vàng, bọ chó, gió Than Uyên…
Bỗng súng rộ lên một chặp dưới lưng đồi rồi lại tắt ngay.
Trong im lặng, liên lạc lên báo ta đã tiếp cận đâm chết một thằng.
Tiếng nổ, đấy là chúng nó bắn chặn để khiêng xác thằng chết về.
Rồi cứ im im thế đến quá trưa. Vẫn quạnh như tờ (sau mới biết
trong đồn vẫn đoán là sắp đến ngày kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí
Minh, du kích đến quấy). Đồn Tây ra lệnh phòng thủ và canh gác
nghiêm ngặt hơn. Trèo lên cây đồi bên này, tôi trông rõ những
người vác hòm đạn vào lô cốt như kiến tha mồi. Chúng tôi lo bữa
ăn cho chắc dạ, ăn cơm nắm, thịt rang, các bếp đã chuẩn bị từ
chiều qua.
Mặt trời đã ngả vàng khè trong làn sương các khe núi dâng
lên. Năm giờ chiều, giờ này máy bay dưới xuôi không lên nữa.
Một tiếng ầm, vang bốn phía. Đại bác ta nã thẳng nổ xanh lè bên
lô cốt. Nhưng chỉ đoàng đoàng được vài quả, nền đặt pháo của ta
bị lún, pháo câm. Một khẩu súng, ngay phát đầu đã văng cả chốt
đuôi, suýt chết thằng Tây địch vận ngồi đằng sau. Nhưng các
khẩu cối thì nhả đạn đều đều, tiếng rền liên tiếp. Lương Ngọc
Trác ngồi trên cây nhìn sang phía bên trái, kêu lên: Bên Đại Phác
nổ súng rồi.
Bộ binh xông lên đồn, lúc ấy trời đã tối hẳn. Khoảng gần tám
giờ tối chúng tôi vào được sân đồn Đại Bục, cái chỗ lúc trưa
trông sang thấy lính Tây, lính Thái trần trùng trục vác hòm đạn.
Bóng tối và khói mù mịt. Bờ rào dây thép gai tan tác. Thằng đồn
Tây mặc váy áo giả làm đàn bà Thái chết dưới chân một lũy đất.
Nhưng trên cái lô cốt cao cắm cờ tam tài giữa sân, đạn vẫn nã
xuống. Những mũi xung kích chiến sĩ cầm mác dạt được vào núp
ngay bên bờ tường lô cốt, chặn bọn trên chòi thoát xuống. Chúng
tôi vào làng tề cạnh cổng đồn đương đùng đùng cháy. Không biết
lửa du kích chiếm làng đốt hay đạn trên lô cốt bắn xuống. Chiếm
được đồn rồi mà khắp nơi cứ loạn xạ.
Cái trống nhà chánh tổng treo đầu hồi ngoài sàn không biết ai
đã khiêng ra vứt lăn lóc đấy. Một đám vác xác người chạy qua.
Nguyễn Tuân, quần áo đen như hung thần hiện lên, tay cầm dùi
trống, mấy chiến sĩ quay ngược nện báng súng vào mặt trống. Cả
đám người đánh trống ngũ liên thúc trận hạ lô cốt cuối cùng lừng
lững trước mặt. Mấy tên lính Thái gan lì vẫn da...
 





